Dành tối thiểu 2% ngân sách hằng năm cho bảo vệ môi trường: 'Đòn bẩy' tài chính công và bước ngoặt quản trị hiện đại
Theo dõi KTMT trên
Việc quyết định dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường trong 5 năm tới không đơn thuần là một con số phân bổ tài chính.
Trong Kết luận số 75-KL/TW được Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc quán triệt tại Hội nghị toàn quốc ngày 29/7/2026, đây được xem là 'vốn mồi' dẫn dắt dòng chảy tài chính xanh, kích hoạt các nguồn lực xã hội và quốc tế, đồng thời đánh dấu bước chuyển dịch căn bản từ tư duy ứng phó sang kiến tạo phát triển xanh bền vững.
Bước ngoặt tư duy: Khi môi trường thành động lực tăng trưởng mới
Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu từ lâu đã không còn là câu chuyện xử lý sự cố thụ động hay một 'chi phí gánh nặng' đối với ngân sách. Nhìn từ góc độ kinh tế phát triển, việc duy trì một nền kinh tế khai thác cạn kiệt tài nguyên và xả thải không kiểm soát sẽ nhanh chóng chạm tới ngưỡng giới hạn chịu tải sinh thái, làm suy giảm năng suất lao động và triệt tiêu sức cạnh tranh quốc gia.
Trình bày chuyên đề 'Kết luận về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới' (Kết luận số 75-KL/TW) tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV ngày 29/7/2026 vừa qua, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã nhấn mạnh yêu cầu xác lập một tầm nhìn mới: bảo vệ môi trường phải được đặt trong tổng thể tư duy phát triển, là nền tảng cho chuyển đổi xanh và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Sự thay đổi căn bản nhất nằm ở việc chuyển dịch mạnh mẽ từ 'tư duy ứng phó' sang 'kiến tạo phát triển', và từ mô hình 'quản lý hành chính' thuần túy sang 'quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro'. Mọi quy hoạch và định hướng phát triển từ nay bắt buộc phải nằm trong giới hạn sinh thái, dựa trên khả năng chịu tải của môi trường, lấy chất lượng cuộc sống của nhân dân làm trung tâm.
"Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới, là nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh, là một động lực phát triển mới của nền kinh tế."
— Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc
Con số 2% ngân sách: 'Vốn mồi' giải bài toán thất bại thị trường
Dưới góc nhìn kinh tế học môi trường, suy thoái hệ sinh thái và ô nhiễm môi trường chính là biểu hiện điển hình của 'thất bại thị trường' do tính chất của tài sản công và sự hiện diện của chi phí ngoại ứng tiêu cực. Khi các hành vi gây ô nhiễm không bị tính đúng, tính đủ vào chi phí sản xuất, thị trường sẽ không thể tự điều chỉnh để tối ưu hóa nguồn lực xã hội.
Trong bối cảnh đó, cam kết "dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm" cho sự nghiệp bảo vệ môi trường trong 5 năm tới mang ý nghĩa chiến lược vô cùng to lớn. Nguồn tài chính công này đóng vai trò nội hóa chi phí môi trường, đồng thời khắc phục các điểm nghẽn về hạ tầng xử lý chất thải, quan trắc và phục hồi hệ sinh thái.
Đặc biệt, Kết luận 75-KL/TW đã chỉ rõ: ngân sách nhà nước không gánh vác toàn bộ mà đóng vai trò "dẫn dắt và kích hoạt". Bằng cách đảm bảo 2% nguồn vốn công làm 'vốn mồi' giảm thiểu rủi ro cho các dự án xanh, Nhà nước sẽ huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội, dòng tín dụng xanh từ các ngân hàng, trái phiếu doanh nghiệp, cùng các quỹ khí hậu toàn cầu (như GCF, JETP) cùng tham gia.
Ảnh minh họa. Những chỉ tiêu định lượng: Thước đo thực chất cho quản trị hiện đại
Điểm mới nổi bật khiến giới chuyên gia kinh tế - môi trường đánh giá cao Kết luận 75-KL/TW chính là tính cụ thể và định lượng của các mục tiêu trong 5 năm tới. Các con số này không chỉ là định hướng trên giấy, mà trở thành căn cứ bắt buộc để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực và kiểm tra hiệu quả thực hiện.
BẢNG TỔNG HỢP CÁC CHỈ TIÊU ĐỊNH LƯỢNG ĐẾN NĂM 2030
| Lĩnh vực then chốt | Mục tiêu cụ thể đến 2030 | Tác động Kinh tế - Xã hội |
| Tài chính công xanh | Dành tối thiểu 2% tổng chi NSNN hằng năm | Giữ vai trò mồi dẫn, thu hút dòng vốn tư nhân và quốc tế. |
| Tỷ trọng Kinh tế xanh | Kinh tế xanh chiếm khoảng 10% GDP | Tạo động lực tăng trưởng mới, dịch chuyển mô hình sang carbon thấp. |
| Chuyển dịch Năng lượng | Năng lượng tái tạo đạt tối thiểu 26,1% | Giảm phát thải nhà kính, bảo đảm an ninh năng lượng bền vững. |
| Cam kết Khí hậu | Giảm ít nhất 9% phát thải khí nhà kính | Hiện thực hóa lộ trình Net Zero 2050, vượt qua rào cản CBAM. |
| Không khí đô thị | Tối thiểu 80% số ngày đạt mức tốt & trung bình | Bảo vệ sức khỏe nhân dân, giảm chi phí y tế và tăng năng suất. |
| Xử lý Chất thải | Thu gom, xử lý 95% rác đô thị, 85% rác nông thôn; 100% cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn | Thúc đẩy ngành công nghiệp tái chế, triệt tiêu các điểm nóng ô nhiễm. |
Xa hơn nữa, đến năm 2045, Việt Nam hướng tới xây dựng một môi trường sống hoàn toàn trong lành, nơi kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp trở thành phương thức phát triển chủ đạo, giúp đất nước phát triển hài hòa với thiên nhiên.
9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm: Chiến lược toàn diện cho kỷ nguyên mới
Để hiện thực hóa các chỉ tiêu định lượng trên, Kết luận số 75-KL/TW đã vạch ra 9 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm mang tính hệ thống và đột phá:
Nâng cao nhận thức và lan tỏa văn hóa tiêu dùng xanh: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh xây dựng ý thức tự giác và văn hóa môi trường trong toàn xã hội; khuyến khích tiêu dùng bền vững và lối sống hài hòa với thiên nhiên. Hoàn thiện thể chế và siết chặt kỷ cương thực thi: Khẩn trương hoàn thiện Luật Bảo vệ môi trường và hệ thống pháp luật có liên quan. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn liền với hậu kiểm. Đáng chú ý, kết quả thực hiện mục tiêu môi trường sẽ được sử dụng làm tiêu chí quan trọng để đánh giá cán bộ và chính quyền các cấp. Huy động và phân bổ hiệu quả 2% nguồn lực ngân sách: Đảm bảo ngân sách nhà nước phân bổ tối thiểu 2% tổng chi hằng năm, đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý linh hoạt để kích hoạt các nguồn tài chính xanh, trái phiếu xanh và quỹ khí hậu quốc tế. Giải quyết triệt để các điểm nóng ô nhiễm môi trường: Tập trung nguồn lực xử lý ô nhiễm không khí tại các đô thị đặc biệt (Hà Nội, TP.HCM), ô nhiễm lưu vực sông, làng nghề và cụm công nghiệp. Yêu cầu 100% nguồn xả thải lớn phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động liên tục. Bảo tồn thiên nhiên và hạch toán vốn tự nhiên: Hiện đại hóa công tác quản lý tài nguyên gắn với chuyển đổi số; đẩy mạnh áp dụng các Giải pháp dựa vào Tự nhiên (NbS) để bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái rừng, biển và ngập nước quan trọng. Chủ động thích ứng biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thiên tai: Cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, lồng ghép đánh giá rủi ro khí hậu vào tất cả các quy hoạch phát triển vùng và địa phương, chuyển mạnh từ ứng phó thảm họa sang chủ động quản trị rủi ro. Thúc đẩy Chuyển đổi xanh, Kinh tế tuần hoàn và Thị trường Carbon: Chuyển đổi các ngành kinh tế theo hướng carbon thấp, phát triển giao thông xanh, đô thị xanh. Bắt buộc kiểm kê khí nhà kính và thúc đẩy vận hành thị trường carbon trong nước. Đột phá Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số: Ưu tiên phát triển và chuyển giao các công nghệ quan trắc, dự báo tiên tiến, công nghệ tái chế, xử lý chất thải hiện đại và công nghệ thu hồi, lưu trữ carbon (CCUS). Tăng cường Ngoại giao Môi trường và Ngoại giao Khí hậu: Chủ động tham gia định hình các cơ chế hợp tác toàn cầu; tăng cường hợp tác xử lý các vấn đề môi trường xuyên biên giới, an ninh nguồn nước sông Mekong và an ninh khí hậu.Để cam kết 2% ngân sách không rơi vào tình trạng phân bổ dàn trải hay 'tồn ngân khó giải ngân', giới chuyên gia đề xuất Chính phủ cần sớm thể chế hóa bằng "Khung Chi tiêu Môi trường Quốc gia". Trong đó, quy định rõ cơ cấu phân bổ giữa vốn đầu tư phát triển hạ tầng xanh (xử lý rác thải, nước thải, năng lượng tái tạo) và chi sự nghiệp môi trường (quan trắc, thanh tra, bảo tồn).
Bên cạnh đó, việc áp dụng nguyên tắc 'Người gây ô nhiễm phải trả tiền' thông qua cải cách thuế, phí môi trường sẽ giúp tạo nguồn thu bền vững tái đầu tư cho các quỹ tài chính xanh. Việc kết nối 100% dữ liệu quan trắc tự động về Trung tâm Dữ liệu Môi trường Quốc gia ứng dụng AI cũng sẽ giúp cơ quan quản lý điều hành kịp thời, minh bạch và chính xác.
Kết luận số 75-KL/TW đã phân công rõ trách nhiệm cho các bộ, ngành, địa phương. Tinh thần chỉ đạo quyết liệt từ Trung ương, sự phối hợp của các cấp chính quyền cùng sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và người dân chắc chắn sẽ đưa các quyết sách tài chính công quan trọng này nhanh chóng đi vào cuộc sống, mở ra một bước phát triển bứt phá, xanh và bền vững cho đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hân Nguyên








