Lưu giữ hồn cốt dân tộc
Những ngày cuối năm, khi nắng ấm báo hiệu mùa Xuân, cũng là lúc các xưởng làm trống tại xã Đại Đồng (Nghệ An) hoạt động hết công suất. Dù không biển hiệu hào nhoáng, nhưng khách hàng từ khắp trong và ngoài tỉnh vẫn lặn lội về đây đặt mua trống.
Là một trong những xưởng trống da lớn nhất vùng, cơ sở sản xuất của ông Phan Văn Cư (SN 1963, trú tại thôn Văn Thượng, xã Đại Đồng) lúc nào cũng rộn ràng tiếng máy xẻ gỗ, tiếng bào rẹt rẹt hòa lẫn tiếng cười nói râm ran của những người thợ.
Ông Cư cho biết, nghề làm trống da tại đây vốn có nguồn gốc từ xã Hưng Nguyên (Nghệ An), trải qua bao đời cha truyền con nối, đến nay bám rễ sâu tại đất Đại Đồng.
"Dù chúng tôi làm trống quanh năm, nhưng dịp giáp Tết là lúc cao điểm nhất. Bởi lẽ, Tết đến Xuân về là mùa của lễ hội, của các nghi thức tâm linh tại đình, chùa, nhà thờ họ... Đơn hàng tới tấp, xưởng phải đỏ đèn làm hết công suất mới kịp giao cho khách", ông Cư bộc bạch.
Xưởng làm trống của gia đình ông Phan Văn Cư.
Theo ông Cư, để tạo ra một chiếc trống có âm thanh vang, rền và bền bỉ theo thời gian, quy trình sản xuất đòi hỏi sự khắt khe ngay từ khâu chọn nguyên liệu. Giới làm trống vẫn truyền tai nhau câu thành ngữ: "Da trâu, tang mít, đánh ít kêu nhiều".
Tại xưởng ông Cư, gỗ mít được ưu tiên số một để làm tang trống. Ông lý giải, gỗ mít có đặc tính dẻo, nhẹ, ít bị cong vênh hay nứt vỡ khi thời tiết thay đổi, lại có khả năng cộng hưởng âm thanh tuyệt vời. Điều đặc biệt là gỗ càng già, thớ gỗ càng đanh thì tiếng trống cất lên càng vang vọng, hào sảng.
Chính vì thế, để có được những thân gỗ mít chất lượng, người thợ phải lặn lội vào tận các nhà dân, đi sâu vào các vùng quê xa xôi để săn lùng, thu mua từng gốc mít cổ thụ.
Quy trình xử lý gỗ cũng lắm công phu. Gỗ sau khi mua về được xẻ thành từng thanh (dăm trống) với độ rộng hẹp tùy theo kích thước từng loại trống. Những thanh gỗ này phải được phơi khô kỹ lưỡng dưới nắng tự nhiên, sau đó được bào chuốt để đạt độ cong và độ dày chuẩn xác.
Cái tài của người thợ nằm ở chỗ, khi ghép các thanh dăm này lại với nhau bằng chốt tre. Yêu cầu phải kín khít tuyệt đối, tạo thành một khối tang trống tròn trịa, trơn tru mà không cần dùng đến keo dán công nghiệp.
Mỗi năm xưởng của ông Cư sản xuất, sửa chữa hàng trăm chiếc trống.
Song hành với gỗ mít là mặt da. Nếu như tang trống là xương cốt thì mặt da chính là linh hồn của chiếc trống. Người thợ sử dụng da bò, bởi loại da này cho âm thanh thanh thoát, vang xa. Riêng những loại trống sấm, trống đại cỡ lớn mới cần dùng đến da trâu để chịu lực tốt hơn.
Việc chọn da cũng là một nghệ thuật. Người lột da phải là thợ điêu luyện để miếng da nguyên vẹn, không bị rách hay phạm thịt. Da bò càng già thì độ bền càng cao, tiếng càng đanh. Sau khi thu mua, da được bào mỏng, xử lý kỹ và phơi nắng nhiều ngày cho thật khô, thật đanh.
Những ngày trời âm u, người thợ phải đốt lửa, dùng nhiệt để hong da, đảm bảo độ ẩm không làm hỏng chất lượng âm thanh sau này. Mỗi công đoạn, từ xẻ gỗ đến thuộc da, đều thấm đẫm mồ hôi và sự tỉ mỉ của người nghệ nhân.
Vang xa tiếng trống quê hương
Nếu như phần "xương cốt" của chiếc trống đòi hỏi sự chính xác, thì công đoạn bịt mặt trống lại đòi hỏi sự nhạy cảm tinh tế của đôi tai. Đây được xem là khâu quan trọng nhất, quyết định thành bại của sản phẩm.
Để căng những tấm da bò lên mặt tang trống, người thợ phải dùng chiếc kìm chuyên dụng, néo chặt da vào bệ. Sau đó, dùng chính sức nặng cơ thể để dẫm lên mặt trống. Động tác này giúp da giãn đều, không còn nếp nhăn.
Người thợ bịt mặt trống bằng da bò.
Khi mặt da đã đạt độ căng cần thiết, người thợ dùng đinh chốt làm từ tre già để cố định vào tang gỗ. Đinh tre già có độ dẻo dai, ăn khớp với gỗ mít, không bị gỉ sét và không làm rách da hay nứt gỗ theo thời gian.
Tiếng búa gõ đều đều, tiếng da căng báo hiệu một chiếc trống sắp hoàn thiện. Sau cùng, vòng đai làm bằng mây hèo hoặc tre nứa được nêm chặt quanh thân trống, vừa để gia cố độ bền, vừa tạo nên vẻ đẹp thẩm mỹ mộc mạc, khỏe khoắn.
Điều đáng mừng tại làng nghề Đại Đồng là sự xuất hiện ngày càng nhiều của những người thợ trẻ. Anh Phan Văn Dũng (SN 1996), con trai ông Phan Văn Cư là một ví dụ điển hình cho sự kế thừa này.
"Từ nhỏ, tiếng trống, mùi gỗ mít và mùi da thuộc đã ngấm vào máu thịt. Ban đầu, tôi phụ bố mẹ làm những việc vặt, rồi dần dần học được những kỹ thuật khó. Nghề này nhìn đơn giản nhưng cực nhọc và kén người", anh Dũng chia sẻ.
Theo anh, kỹ thuật làm trống rất khó, thời gian hoàn thiện một sản phẩm lâu, đòi hỏi sự kiên trì bền bỉ. Chỉ những ai thực sự đam mê, yêu tiếng trống quê hương mới có thể trụ vững.
Tiếng trống trở thành nét đẹp văn hóa không thể thiếu mỗi dịp Tết đến, Xuân về.
Anh Dũng cho biết, trước đây làm một chiếc trống mất rất nhiều thời gian, nhưng gần đây nhờ có máy móc hỗ trợ các khâu xẻ gỗ, bào gỗ nên năng suất tăng lên, người thợ đỡ vất vả hơn. Tuy nhiên, những khâu cốt lõi như bưng da, chỉnh âm thì vẫn phải làm thủ công hoàn toàn.
Sản phẩm trống của Đại Đồng hiện nay vô cùng đa dạng, từ trống đình làng, trống đền chùa, đến trống trường học, trống múa lân, trống hội... Giá cả cũng phong phú, từ vài trăm nghìn đồng cho đến hàng chục triệu đồng tùy kích thước.
Có những chiếc trống khổng lồ với đường kính mặt lên tới 1,5-2 mét, đòi hỏi sự kỳ công và tay nghề bậc thầy mới có thể thực hiện.
Hiện, gia đình ông Cư có 3 cơ sở sản xuất trống, với hàng chục lao động. Nhờ uy tín và chất lượng, mỗi năm các cơ sở bán ra hàng trăm chiếc, mang lại doanh thu hàng tỷ đồng.
Ông Trần Thanh Nga, Chủ tịch UBND xã Đại Đồng cho biết, nghề làm trống ở địa phương có lịch sử lâu đời. Ngày nay, khi đời sống kinh tế phát triển, nhu cầu văn hóa tâm linh và giáo dục được quan tâm, nghề làm trống càng có cơ hội vươn xa.
Theo ông Nga, đây không chỉ là sinh kế bền vững, mang lại thu nhập ổn định cho người dân, mà còn góp phần quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.








