80% phải huy động ngoài ngân sách
Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đang đặt ra bài toán rất lớn về huy động nguồn lực cho nền kinh tế. Theo Bộ Tài chính , tổng nhu cầu vốn cho giai đoạn này ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 20%, còn lại tới 80% phải đến từ khu vực ngoài nhà nước.
Trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ ngày càng thu hẹp, yêu cầu đa dạng hóa nguồn vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn, trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Năm 2025, thị trường tài chính ghi nhận mức huy động kỷ lục hơn 1,15 triệu tỷ đồng, trong đó trái phiếu chiếm trên 1 triệu tỷ đồng và cổ phiếu đạt hơn 150.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, con số này vẫn chưa tương xứng với nhu cầu vốn khổng lồ của nền kinh tế.
Đến cuối tháng 3, tín dụng tăng khoảng 2,45%, nhưng huy động mới chỉ đạt khoảng 0,31%.
Một điểm đáng lưu ý là sự mất cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn trong hệ thống ngân hàng. Theo Ngân hàng Nhà nước, cuối năm 2024, tín dụng tăng 19,07% trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,5%. Đến cuối tháng 3, tín dụng tăng khoảng 2,45% nhưng huy động mới đạt 0,31%. Điều này tiềm ẩn rủi ro thanh khoản và cho thấy hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực lớn trong việc cung ứng vốn.
Dù ngành ngân hàng cam kết tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, nhưng nếu phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng, mô hình tăng trưởng sẽ thiếu bền vững. Vì vậy, phát triển thị trường vốn, đặc biệt là các kênh huy động trung và dài hạn, trở thành hướng đi tất yếu.
Thời gian qua, dù đã có nhiều giải pháp nhằm nâng hạng thị trường chứng khoán , quy mô thị trường này vẫn còn hạn chế. Nếu loại trừ trái phiếu ngân hàng, thì trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ chiếm khoảng 20%, cho thấy sự mất cân đối trong huy động vốn trung và dài hạn.
Bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính, Bộ Tài chính - cho biết, chính sách tài chính sẽ được định hướng tập trung vào một số trụ cột lớn, trong đó quan trọng có việc phát triển thị trường vốn. “Tập trung nâng cao quy mô và chất lượng thị trường trái phiếu Chính phủ, tái cấu trúc thị trường trái phiếu doanh nghiệp và phát triển các nhà đầu tư tổ chức dài hạn như quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trí và doanh nghiệp bảo hiểm”, bà Tâm chia sẻ.
Giảm phụ thuộc tín dụng, cân lại dòng vốn
Ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup - tính toán nhu cầu vốn trong giai đoạn tới bình quân khoảng 8 triệu tỷ đồng/năm. Đầu tư công lớn nhưng tín dụng ngân hàng không còn nhiều dư địa. Đầu tư cho dự án lớn cần dựa trên nguồn vốn trung và dài hạn.
Dòng vốn FDI vẫn được kỳ vọng duy trì tích cực, dù bối cảnh quốc tế còn nhiều biến động. “Dòng vốn từ mua bán và sáp nhập (M&A) còn nhỏ nhưng có thể duy trì. Vốn từ phát hành lần đầu ra công chúng (IPO) năm vừa qua đạt lớn, tôi kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng. Đây là dòng vốn thật, trung dài hạn. Việt Nam vừa được nâng hạng thì sẽ nhận được sự quan tâm của các quỹ, qua đó hoạt động IPO, thoái vốn sôi động.
Kênh huy động vốn từ trái phiếu cũng mới phục hồi, giá trị nếu trừ ngân hàng ra thì không lớn. Nhiều người nói khả năng huy động vốn của Việt Nam khó khăn nhưng tôi tin rằng nếu chúng ta có sự cải cách thì có thể huy động được”, ông Thuân dự báo.
Ông Thuân nhấn mạnh, vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ là huy động thêm vốn, mà là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Muốn vậy, cần đẩy mạnh cải cách thị trường vốn, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp theo chiều sâu, mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp ngoài ngân hàng và đa dạng hóa sản phẩm chứng khoán nợ. Việc cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia cũng là yếu tố then chốt để giảm chi phí huy động vốn.
Hướng đi khác được đề xuất là vai trò dẫn dắt của Nhà nước trong việc hình thành các quỹ đầu tư quy mô lớn, giải bài toán vốn dài hạn cho các nhóm dự án hạ tầng; quỹ tăng trưởng quốc gia. Đây là cách một số quốc gia đã làm để hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế cao.
Thị trường trái phiếu cần được thúc đẩy để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng 2 con số.
Ông Nguyễn Bá Hùng - chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á tại Việt Nam - cũng cho rằng, một trong những vấn đề quan trọng hiện nay là nâng cao hiệu quả huy động vốn cho nền kinh tế, trong đó cần đặc biệt chú trọng phát triển thị trường trái phiếu.
Theo ông Hùng, thị trường trái phiếu là kênh huy động vốn ngoài ngân hàng rất hiệu quả, nhất là đối với nhu cầu vốn trung và dài hạn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, kênh này vẫn chưa được phát triển tương xứng với tiềm năng.
Dẫn số liệu so sánh, ông Hùng cho biết đến cuối năm 2025, quy mô tín dụng ngân hàng tương đương khoảng 145% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ chiếm khoảng 10% GDP. Sự chênh lệch lớn này cho thấy nền kinh tế đang phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống ngân hàng trong việc cung ứng vốn.
Đáng chú ý, khoảng 40% dư nợ của hệ thống ngân hàng hiện là các khoản vay trung và dài hạn, tương đương xấp xỉ 60% GDP. Điều này tạo ra áp lực không nhỏ lên hệ thống tài chính, bởi ngân hàng vốn phù hợp hơn với tín dụng ngắn hạn.
Thị trường trái phiếu lại là công cụ phù hợp để huy động vốn trung và dài hạn. Vì vậy, theo ông Hùng, nếu phát triển cân đối giữa tín dụng ngân hàng và thị trường trái phiếu, Việt Nam không chỉ huy động hiệu quả hơn các nguồn lực cho tăng trưởng, mà còn góp phần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và nâng cao tính ổn định của thị trường tài chính.








