FiinGroup vừa phát hành báo cáo Triển vọng Kinh tế Việt Nam 2026: Định vị Nguồn vốn cho Mục tiêu tăng trưởng cao 2026 – 2030.
Theo cáo cáo, năm 2025, GDP của Việt Nam tăng trưởng 8,02% với động lực chính đến từ đầu tư công và FDI. Trong đó, đầu tư công tăng 26,6%, FDI giải ngân tăng 11,7% trong khi Đầu tư tư nhân trong nước chỉ tăng 8,4%, thấp hơn đáng kể so với yêu cầu cho tăng trưởng cao.
Thặng dư thương mại đạt 20,1 tỷ USD, giảm 19,6%, trong đó xuất siêu khu vực FDI là hơn 48,1 tỷ USD, bù đắp cho nhập siêu gần 28 tỷ USD của các doanh nghiệp nội địa. Tiêu dùng nội địa ghi nhận bán lẻ danh nghĩa tăng 9,3% và bán lẻ thực (loại trừ giá) tăng 6,7%.
FiinGroup đánh giá, mô hình tăng trưởng hiện tại phụ thuộc lớn vào đầu tư công và FDI, thiếu động lực nội sinh từ doanh nghiệp tư nhân và tiêu dùng trong nước. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng 10% từ năm 2026, động lực sẽ từ (1) cải thiện dòng vốn đầu tư của doanh nghiệp trong nước và (2) phục hồi cầu tiêu dùng trong nước.
Nhóm chuyên gia cũng phân tích, Việt Nam đối diện với áp lực lớn cho đầu tư tư nhân giai đoạn 2026 – 2030. Khoảng trống về nguồn vốn lớn và dài hạn, đặc biệt cho các dự án đầu tư trung và dài hạn của khu vực tư nhân và các dự án hạ tầng lớn. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng không thể tiếp tục lệ thuộc vào vốn đầu tư công và tín dụng. Đặc biệt, tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống hiện đã đạt 18,4 triệu tỷ đồng, tương đương với 702 tỷ USD và tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã lên mức cao 146% vào cuối năm 2025. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của toàn ngân hàng khoảng 28,32% tại cuối tháng 11/2024 (gần chạm trần quy định 30% của NHNN), CAR nhóm Big 4 dưới 11% tại thời điểm giữa 2025 và áp lực triển khai Basel III (lộ trình đến 2030). Các chỉ số này cho thấy hệ thống các NHTM Việt Nam sẽ không đủ sức để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn cho đầu tư nói chung và trong đó có các dự án hạ tầng lớn của Việt Nam.
Theo FiinGroup, có 3 nguồn vốn chiến lược cần được kích hoạt là: Trái phiếu doanh nghiệp, Vốn vay quốc tế và Huy động vốn cổ phần trên thị trường chứng khoán.
Triển vọng năm 2026 của trái phiếu doanh nghiệp cũng được đánh giá rất tích cực khi chính sách tiền tệ không còn nới lỏng như trước trong khi nhu cầu vốn trung – dài hạn của doanh nghiệp gia tăng mạnh như hiện nay, buộc các doanh nghiệp phải đa dạng hóa kênh huy động vốn thay vì tập trung vào kênh tín dụng ngân hàng. Bản thân ngành ngân hàng có dư địa cấp vốn dài hạn thấp khi mà ngân hàng chịu áp lực về khả năng cấp tín dụng dài hạn, quy định về hạn mức an toàn và đặc biệt là bộ đệm vốn còn quá mỏng.
Ngoài ra, các chính sách mới về trái phiếu doanh nghiệp và các quy định liên quan đến việc giúp các dự án và doanh nghiệp đủ điều kiện phát hành trái phiếu ví dụ như vấn đề pháp lý dự án hạ tầng, bất động sản tăng lên. Vấn đề quy định mục đích sử dụng vốn cho trái phiếu riêng lẻ cũng dự kiến sẽ rõ ràng hơn trong dự thảo sửa đổi Nghị định về trái phiếu riêng lẻ đang được thực hiện.
Bên cạnh đó, cơ sở nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp hiện cũng đang được mở rộng qua việc nới lỏng các điều kiện cho các quỹ đầu tư, công ty chứng khoản cũng như việc cải thiện chính sách cho mô hình quỹ hưu trí tự nguyện phát triển, hình thành các mô hình quỹ mới như quỹ bảo lãnh trái phiếu, quỹ hạ tầng,… Hạ tầng về giao dịch, thông tin tập trung quản lý cơ sở nhà đầu tư đã được thực hiện và tập trung, minh bạch thông tin tài chính, xếp hạng tín nhiệm đã được áp dụng, thông tin về tín giá trái phiếu,... đã phần nào sẵn có hơn.
Đối với vốn vay quốc tế, FiinGroup nhấn mạnh, triển vọng huy động kênh vốn này sẽ cải thiện khi lãi suất toàn cầu giảm và phụ thuộc lớn vào việc nâng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia (hiện BB+) và cơ chế chính sách nhằm cải thiện Bankability của dự án nhất là các dự án hạ tầng.
Huy động vốn cổ phần trên thị trường chứng khoán cũng có nhiều tiềm năng trong năm 2026 với các thương vụ IPO, doanh nghiệp FDI niêm yết, tiếp tục nâng hạng theo MSCI và hiện thực hóa kết quả từ nâng hạng thị trường chứng khoán nhằm thu hút vốn đầu tư gián tiếp.








