Một vài suy ngẫm về Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn trăm năm
Theo dõi KTMT trên
Chúng ta lại có một quy hoạch nữa cho Thủ đô Hà Nội, đó là Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (QHHN100).
Ngữ cảnh

Chúng ta lại có một quy hoạch (QH) nữa cho Thủ đô Hà Nội, đó là Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (QHHN100). Bản Thuyết minh Quy hoạch này hiện đang được gửi lấy ý kiến đóng góp một cách rất rộng rãi.
Đây là lần thứ 3 trong vòng những năm thuộc thập kỷ 20 của Thế kỷ XXI người dân được dịp góp ý một QH phát triển Thủ đô. Trước đó là Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (QHHN50) đã được phê duyệt theo Quyết định số: 1569/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày22tháng 12 năm 2024 và Điều chỉnhQuy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 (QHHN65) được phê duyệt theo Quyết định số: 1668/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 12 năm 2024.
Như vậy, bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Thủ đô Hà Nội của chúng ta sẽ thực hiện cùng lúc 3 QH. Tôi nghĩ và chắc có nhiều người cùng có ý nghĩ là việc cùng lúc thực hiện thì liệu có gì đó chồng chéo nhau không?, liệu các tiêu chí/mục tiêu đặt ra của các QH có khác nhau không?, các cơ sở khoa học, các nguồn lực có đủ đảm bảo để chúng ta thực hiện được các tiêu chí đặt ra hay không cũng như những gì sẽ là dấu hiệu nhận biết thành công trong quá trình thực hiện QH? Và còn những gì nữa vẫn còn phải tìm hiểu để có thêm niềm tin vào thắng lợi của thực hiện các QH này.
Tôi đã được tiếp cận việc lập QH từ hơn 10 năm nay, khi được chủ trì thực hiện đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) cho Chiến lược và QH tổng thể "Phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030". Khi thực hiện ĐMC, nhóm thực hiện đã phải đồng hành với nhóm lập QH và phải nhận biết khá chi tiết những hoạt động cơ bản mà QH đặt ra để xem xét khả năng tác động đến môi trường. Tiếp đến, trong thời gian lập Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và QH các tỉnh, thành phố trực thuộc TW cùng thời kỳ, tôi cũng được tham gia phản biện báo cáo ĐMC của nhiều QH, trong đó có QH quốc gia và khoảng 30 tỉnh, thành phố trực thuộc TW. Hiện tai, các văn bản QH này cùng báo ĐMC chúng tôi vẫn còn lưu giữ và vẫn sử dụng như một tài liệu tham khảo,
Qua quá trình tiếp cận QH như vậy chúng tôi cũng đã hiểu hơn về quá trình lập, nội dung, các mục tiêu, hoạt động đặt ra trong QH cùng các nguồn lực cần có trong thực hiện QH. Tuy nhiên, đọc Thuyết minh Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm với dung lượng rất lớn (trên 1130 trang trong bản PDF) chúng tôi không thể có được góp ý hay phản biện (vì không có nhiều tài liệu tham khảo và không có nhiều thời gian) mà chỉ muốn trình bày một số điều mà mình nhận thức được từ sau khi tiếp cận bản QH này.

Bản đồ định hướng phát triển không gian Thủ đô Hà Nội được đưa ra lấy ý kiến.
Viễn cảnh Thủ đô Hà Nội phản ánh trong QHHN100
Lập QH là quá trình đánh giá, dự báo phát triển theo thời gian của một đơn vị lãnh thổ dựa trên những giá trị về tiềm năng lợi thế và quá trình khai thác tất cả nguồn lực phục vụ QH. Hiện tại có 3 QH cho Thủ đô Hà Nội với các tiêu chí có thể khác nhau theo phân tích khác nhau. Vì vậy, muốn đóng góp ý kiến cho QH này thì phải đọc cả 2 QH còn lại để so sánh, phân tích từ đó rút ra những gì cần góp ý. Trong bài viết này chúng tôi dựa vào QHHN100 là chính nhưng sẽ có so sánh thêm với QHHN50 và QHHN65.
Nếu xem xét toàn diện viễn cảnh Thủ đô những năm tới trong QH thì sẽ có quá nhiều nội hàm cần nêu nên chúng tôi chỉ tập trung vào một số viễn cảnh sau:
Viễn cảnh chung (theo mục tiêu):
Trong QHHN100 đã đưa ra các mục tiêu cho Thủ đô Hà Nội theo các mốc thời gian:
- Đến năm 2035: “Thủ đô Hà Nội "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc", xanh, thông minh; hội tụ tinh hoa văn hóa, hội nhập quốc tế toàn diện; trở thành điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn bậc nhất; là trung tâm kinh tế, dịch vụ tài chính thương mại quan trọng cấp quốc gia; trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao hàng đầu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; trung tâm nghiên cứu, phát triển các ngành công nghệ chiến lược và đổi mới sáng tạo; giữ vai trò dẫn dắt vùng, hạt nhân trong các chuỗi liên kết giá trị quốc gia, khu vực và toàn cầu; bảo đảm chính trị - xã hội ổn định, thành phố thanh bình, người dân hạnh phúc”.
- Đến năm 2045: “Thủ đô Hà Nội là trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, hội tụ tri thức và công nghệ; có chất lượng sống cao; xã hội văn minh, an toàn, hạnh phúc; là nơi đáng đến và đáng sống, ngang tầm với thủ đô các nước phát triển Châu Á”.
- Đến năm 2065: “Thủ đô Hà Nội là thành phố toàn cầu; ngang tầm với thủ đô các nước phát triển trên thế giới, thuộc nhóm các thủ đô có chất lượng sống và hạnh phúc cao trên thế giới”.
- Tầm nhìn 100 năm: “Thủ đô Hà Nội là Thành phố toàn cầu, đại đô thị văn hiến - thông minh - sáng tạo - sinh thái tiêu biểu trên thế giới”.
Quả thật viễn cảnh này thỏa mãn ao ước của tất cả người dân Việt Nam, khi từ 2035 Thủ đô Hà Nội đã là “trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương”, “thành phố thanh bình, người dân hạnh phúc”. Ngay cả những người trên 75 tuổi như tôi cũng có ước muốn sống thêm 10 năm nữa để chứng kiến viễn cảnh Hà Nội như vậy. Viễn cảnh nêu trong QHHN100 đã khái quát - được cả các mục tiêu của 2 QH còn lại và có phần cụ thể hơn, khẳng định hơn về vị thế Thủ đô không chỉ trong giới hạn quốc gia mà còn trên cả bình diện quốc tế.
Tôi cứ suy nghĩ mãi là tại sao không có ai/đơn vị/tổ chức nào thử lấy ý kiến về mức độ tin tưởng đạt được viễn cảnh nêu trên của Hà Nội. Nghĩa là soạn ra câu hỏi đơn giản là mức độ tin vào viễn cảnh đặt ra trong QHHN100 của Ông/Bà/Anh/Chị ở mức nào?: Tin tưởng hoàn toàn – Tin tưởng nhưng vẫn còn lo ngại – Khó thực hiện nên chỉ thực hiện được một phần – Không tin thực hiện được chẳng hạn. Khi điều tra ta sẽ thấy rõ đánh giá theo xu hướng nào chiếm ưu thế và tìm hiểu xem những người theo xu thế ấy là ai và họ dựa vào đâu để đánh giá như vậy.
Không chỉ là viễn cảnh cần đưa thành câu hỏi có sẵn mức độ trả lời mà còn nhiều nội dung của các QH có thể soạn thành câu hỏi để điều tra mức độ phù hợp với cộng đồng. Đây là việc được thực hiện rất thường xuyên ở nhiều nước nhưng ở nước ta chưa có nhiều công trình kiểu này. Có người cho rằng, cách lấy ý kiến này có phần gượng ép khi họ phải chọn trả lời vào những đáp án có sẵn và khó rạch ròi giữa những đáp án này để lựa chọn. Đây cũng là vấn đề đặt ra khi chúng tôi tiến hành các dự án nghiên cứu khoa học (NCKH) của mình nhưng rồi đọc kỹ sách tham khảo và đặc biệt khi đưa phương pháp này vào cuốn giáo trình “Đánh giá tác động môi trường” được Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội in và được Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG HN và một số trường sử dụng trong giảng dạy tôi mới thấy giá trị của phương pháp được gọi là: “Danh mục câu hỏi” dùng trong đánh giá tác động môi trường (ĐTM), đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) và trong các đánh giá các chủ trương, đường lối, chính sách khác.
Thật ra, sử dụng phương pháp này cũng có đòi hỏi khắt khe đối với người sử dụng, đó là cách đặt câu hỏi và cách xử lý, biện luận các kết quả thu được. Bộ câu hỏi (thậm chí chỉ là một câu hỏi) phải có nội hàm trúng vào vấn đề đang được nghiên cứu và đưa ra được khả năng khác nhau để dễ trả lời. Đôi khi, trong bộ câu hỏi có thêm câu hỏi nhằm đánh giá mức độ tin cậy của các đánh giá trước đó theo kiểu kiểm tra chéo. Cũng có người cho rằng, khi được hỏi người ta đâu có nhiều thời gian suy nghĩ/xem xét nên trả lời sẽ khó chính xác. Tuy nhiên, người trả lời đọc câu hỏi và trong thời gian ngắn họ có thể trả lời dựa vào những gì tích lũy được, cảm nhận được, nghiên cứu được trước đó cũng như đã ăn sâu vào tâm trí họ. Việc xử lý và biện luận mang tính quyết định đối với sử dụng phương pháp này. Nếu như tỷ lệ lớn trả lời vào phương án cụ thể (PAi) nào đó giúp chúng ta có cái nhìn tập trung hơn vào phương án đó thì phương án ít ai đề cập lại càng phải chú trọng tìm hiểu những nguyên nhân có thể xảy ra phương án này để thấu hiểu hết khả năng xảy ra, nhất là đối với những sự kiện sẽ xảy trong tương lai như trong các QH chẳng hạn.
Với câu hỏi về mức tin tưởng viễn cảnh chung đưa ra trong QHHN100 khi thực hiện thì có thể một số người sẽ đánh dấu vào đáp án “Tin tưởng hoàn toàn” vì họ tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng nhưng cũng sẽ có người chọn đáp án “Khó thực hiện nên chỉ thực hiện được một phần” vì họ thấy được những khó khăn, những hạn chế do các sự kiện đang diễn ra trên Thế giới (chiến tranh, khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực,….) hay những khó khăn trong nước (đang chuyển giao lãnh đạo, vẫn còn tham những, vẫn còn nhiều vấn đề nan giải như ô nhiễm, ngập úng,…) thậm chí có những người chọn đáp án “Không tin thực hiện được chẳng hạn” vì bức xúc với nhiều QH đã có chưa được đánh giá hiệu quả.
Có một điều chắc chắn là dù mọi người có tin hay không, viễn cảnh mà QHHN100 đưa ra vẫn sẽ là yêu cầu để toàn thể cán bộ, nhân dân Thủ đô phấn đấu nhằm đạt được trong các mốc thời gian kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (2030) và kỷ niệm 100 năm kỷ niệm thành lập Nước (2045).

Viễn cảnh phát triển kinh tế
Có nhiều thông số đặc trưng cho viễn cảnh phát triển kinh tế nhưng trong bài viết này chỉ xin tập trung phân tích các chỉ tiêu cơ bản được chỉ ra trong QHHN100. Xin trích lại các mục tiêu kinh tế qua các giai đoạn như sau:
“a) Giai đoạn 2026-2030:
- Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt trên 11%/năm;Quy mô GRDP năm 2030 đạt trên 113 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người đạt trên 12.000 USD;Năm 2030, kinh tế số chiếm 40% trong GRDP; công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 9% trong GRDP của thành phố;Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng bình quân khoảng 57%;Tốc độ tăng năng suất lao động khoảng 8-8,3%/năm;
b) Giai đoạn 2031-2035:
Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2031-2035 đạt trên 11 %/năm; Quy mô GRDP năm 2035 đạt khoảng 200 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 18.800 USD;Năm 2035, kinh tế số chiếm 50% trong GRDP; công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 10% trong GRDP của thành phố; Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt 60%.
c) Giai đoạn 2036-2045:
Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2036-2045 đạt trên 11%/năm; Quy mô GRDP năm 2045 đạt khoảng 640 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 42.000 USD;Công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 12% trong GRDP của thành phố;
d) Giai đoạn 2046-2065:
Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân trên 5%/năm;Quy mô GRDP năm 2065 đạt khoảng 1.920 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 95.000 USD; Công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 15-20% trong GRDP của thành phố;”
Viễn cảnh kinh tế như vậy thì ai cũng mơ ước và mong nó trở thành hiện thực, đặc biệt là người trẻ vì họ có thể chứng kiến viễn cảnh "giàu” như vậy của Thủ đô Hà Nội. Suốt thời gian dài, từ 2026 đến 2045, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân luôn ở mức trên 11%. Tôi cũng có “thu thập” thông tin về tăng trưởng 2 con số của GDP quốc gia khi ngồi bàn luận ở nhiều nơi, nhiều đối tượng và góc độ. Quả thật, có nhiều người còn thiếu niềm tin có thể thực hiện được. Tuy nhiên nếu Việt Nam tăng trưởng 2 con số GDP giai đoạn 2026-2030 thì mục tiêu tăng trưởng GRDP Thủ đô 11% cũng là điều bình thường.
Chúng tôi mở lại QHHN50 thì thấy, mục tiêu phát triển đến năm 2030 có vẻ khiêm tốn hơn:
“(1) Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đạt 8,5 - 9,5%/ năm thời kỳ 2021 - 2030. Quy mô GRDP (giá hiện hành) năm 2030 gấp 3,4 lần năm 2020; đóng góp 15 - 16% tổng sản phẩm (GDP) của cả nước, khoảng 45 - 46% GRDP của vùng đồng bằng sông Hồng. GRDP bình quân/người (giá hiện hành) đạt khoảng 13.500 - 14.000 USD;
(2) Tỷ trọng GRDP của khu vực dịch vụ chiếm khoảng 65,2%, khu vực công nghiệp - xây dựng khoảng 25,3%, khu vực nông, lâm, thủy sản khoảng 1,3%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm khoảng 8,2%.Kinh tế số chiếm 40% trong GRDP; công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 8% trong GRDP của thành phố.”
(3) Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng bình quân khoảng 57 - 58%;
(4) Tốc độ tăng năng suất lao động khoảng 7,5 - 8%/năm;”
Mở lại thông tin về Nội dung cốt lõi văn kiện Đại hội XVIII Đảng bộ Thành phố đăng trên trang mạng Thư viện pháp luật cho thấy: “Giai đoạn 2021-2025, kinh tế Thủ đô tăng trưởng khá, đạt bình quân 6,57%/năm, cao hơn 1,1 lần mức tăng cả nước”. Với giá trị tăng trưởng giai đoạn 2021-2025 của Thủ đô thấp như vậy thì để đạt mục tiêu của QHHN50 giai đoạn 2026-2030 tăng trưởng của Hà Nội cũng phải khoảng 11%. Nhưng rõ ràng mức tăng quá cao ở giai đoạn (2026-2030) cần phải xem xét thêm vì tăng gần gấp đôi giai đoạn 5 năm trước đó. Có lẽ, khi tiến hành lấy thông tin về mức độ tin tưởng về tăng trưởng GRDP của Thủ đô trên 11% thì cũng sẽ có người không tin vì có những tác động tiêu cực đang diễn ra gần đây trên Thế giới (như đã nêu ở trên) và ở Việt Nam cũng như Thủ đô (thiết lập mô hình quản lý hai cấp, sát nhập địa phương bộ/ngành, điều động cán bộ,…).
Ngoài ra, nhiều người còn nhìn vào kết quả thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (QHHN2030) thì thấy mục tiêu tăng trưởng đưa ra trong QH này không đạt dược ở một số chỉ tiêu, chẳng hạn, QH đặt ra mục tiêu GDP bình quân đầu người của Hà Nội đến năm 2020 đạt khoảng 7.100 - 7.500 USD nhưng cũng chỉ đạt được GRDP bình quân đầu người là 5.329 USD (theo Niên Giám thống kê Hà Nội 2020). Tốc độ tăng trưởng 2 con số trong QHHN2030 (tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2011 - 2015 đạt 12 - 13%/năm, thời kỳ 2016 - 2020 đạt khoảng 11 - 12% và thời kỳ 2021 - 2030 đạt khoảng 9,5 - 10%) cũng không đạt được trong thực tế. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thiếu niềm tin của nhiều người đối với con số tăng trưởng trên 11% giai đoạn 2026-2030 của QHHN100.
Chúng tôi cố gắng tìm hiểu nguồn gốc của con số tăng trưởng trong các QH thì thấy QHHN100 có phân tích kinh tế sử dụng mô hình dự báo kịch bản tăng trưởng kinh tế, theo đó:
“Mô hình ARIMAX dự báo tăng trưởng GRDP Hà Nội giai đoạn 2026-2030, 2031-2035, 2036-2045, 2046-2065 được xây dựng với các biến ngoại sinh gồm: Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP); Tổng vốn đầu tư xã hội (INV); Quy mô lao động (LAB); Năng suất lao động đô thị (PROD); Hiệu quả sử dụng vốn (ICOR); Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); Sức cầu tiêu dùng nội địa (RET) nhằm đánh giá tác động của các biến số kinh tế quan trọng đến tăng trưởng GRDP”.
Đưa phân tích có sử dụng mô hình sẽ làm tăng độ tin cậy của kết quả nhưng có lẽ cần làm rõ thêm về đầu vào, về tính toán cụ thể và đặc biệt làm rõ mô hình này đã được áp dụng ở đâu và được đánh giá như thế nào. Các nhà kinh tế học Việt Nam cần vào cuộc kiểm tra thêm về cách sử dụng mô hình, kết quả tính toán cụ thể (tính toán lại một cách độc lập) để tăng độ tin cậy và tăng mức tin tưởng của cộng đồng.
Có lẽ, chúng ta phải đợi thời gian sẽ trả lời cụ thể nhưng nếu để sự thấp thỏm có phần thiếu tự tin ngự trị quá lâu thì không đáng có. Nên chăng, những người/cơ quan lập hai QH này nên có những đối thoại, kiểm tra chéo để có thể đưa ra con số đồng thuận giúp người dân tin tưởng hơn.
Viễn cảnh xã hội
Trong QHHN100, mục tiêu xã hội được đặt ra khá cụ thể:
a) Đến năm 2030:Quy mô dân số khoảng 9,48 triệu người;Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,88;Tuổi thọ trung bình 77 tuổi (số năm sống khỏe tối thiểu 68 năm);Chỉ số hạnh phúc: 9/10;Tỷ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia từ 85 - 90%;Tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo trong nền kinh tế lên 80 - 85%; trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ đạt 60%;Tỷ lệ thất nghiệp chung ở mức dưới 3%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới 3,5%; Số giường bệnh/vạn dân đạt trên 38 giường; số bác sĩ/vạn dân đạt 19 bác sĩ; số dược sĩ/vạn dân đạt 3 dược sĩ; số điều dưỡng/bác sĩ đạt 3 - 4 điều dưỡng. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 100% dân số.
b) Đến năm 2035:Quy mô dân số khoảng 10,12 triệu người;Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,90;Tuổi thọ trung bình 78 tuổi;Chỉ số hạnh phúc: 9,2/10.
c) Đến năm 2045:Quy mô dân số khoảng 11,44 triệu người; Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,92;Tuổi thọ trung bình khoảng 79 tuổi; Chỉ số hạnh phúc: 9,5/10.
d) Đến năm 2065:Quy mô dân số khoảng 14,20 triệu người;Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,95;Tuổi thọ trung bình khoảng 80 tuổi; Thuộc nhóm 10 thủ đô hạnh phúc nhất trên thế giới.“
So sánh với mục tiêu đặt ra trong QHHN50 chúng tôi thấy có một số khác biệt. Nếu như quy mô dân số đến năm 2030 theo QHHN100: khoảng 9,48 triệu người thì mục tiêu đến năm 2030 trong QHHN50 lại cao hơn, khoảng 10,5 - 11 triệu người; dân số vãng lai quy đổi khoảng 1,45 triệu người. Có nhiều cho rằng con số chỉ là dự báo nên có sai số nhưng sai khác quá nhiều như vậy cần xem xét lại cách tính toán để có con số đồng thuận giữa những người thực hiện 2 QH, làm tăng độ tin tưởng của người dân.
Một số mục tiêu còn lại của QHHN100 đến năm 2030 đều đồng thuận với mục tiêu đặt ra trong QHHN50. Đây là điều rất đáng ghi nhận, chứng tỏ có sự tham khảo lẫn nhau khi thực hiện lập 2 QH.

Viễn cảnh bộ mặt đô thị
Đây được coi là điểm đáng quan tâm nhất của cộng đồng, của cư dân không chỉ sống ở Thủ đô mà của cả nước. Tất cả các QH đều tập trung làm rõ bộ mặt đô thị Hà Nội qua các mốc thời gian QH bằng những bản đồ rất ấn tượng.
Tuy nhiên, trước khi tìm hiểu sâu về bộ mặt đô thị phải xem xét quan điểm QH, quan điểm xây dựng, quan điểm bố trí các đô thị, các trung tâm kinh tế, giáo dục, y tế,… qua các QH từ trước tới nay.
Có lẽ bố trí các đô thị luôn là điểm được các nhà QH tập trung thảo luận và cũng có nhiều điểm thay đổi từ trước tới nay. Đã có thời chúng ta muốn có khu đô thị chính, tập trung và các đô thị vệ tinh được bố trí không phải chỉ ở địa giới Thủ đô mà còn ở cả các tỉnh khác. Có lẽ đây là ý tưởng QH theo kiểu Thủ đô Moskva/Moscow của Liên xô trước đây với nhiều đô thị vệ tinh mang nhiều chức năng khác nhau như đô thị gắn với NCKH, gắn với đào tạo, gắn với sản xuất công nghiệp. Nhiều người cho rằng chủ trương xây dựng Trường Đại học Sư phạm II ở Xuân Hòa của tỉnh Vĩnh Phú (cũ) khoảng năm 1975 là bước đầu trong việc xây dựng đô thị giáo dục đại học ở khu vực này.
Có lẽ phải đến QHHN2030 thì bố trí đô thị mới hình thành rõ nét, với Đô thị trung tâm, nơi bố trí trụ sở, cơ quan Trung ương, cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể của quốc gia và Thành phố; trụ sở các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; các cơ sở thương mại, giao dịch, dịch vụ tài chính - ngân hàng - bảo hiểm - chứng khoán; các viện nghiên cứu đầu ngành; trụ sở chính của các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp lớn; các cơ sở đào tạo chất lượng cao với quy mô phù hợp. Và, sẽ có 5 đô thị vệ tinh được phân công chức năng cụ thể:
+ Đô thị Hòa Lạc có chức năng chính về khoa học - công nghệ và đào tạo. Đầu tư các cơ sở trọng tâm là đại học quốc gia Hà Nội và khu công nghệ cao Hòa Lạc; tiếp tục hoàn thiện Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam gắn với hồ Đồng Mô - Ngải Sơn và vùng du lịch Ba Vì - Viên Nam, phát triển hệ thống hạ tầng đô thị hiện đại và đồng bộ.
+ Đô thị Sơn Tây là đô thị văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng; trọng tâm là khu bảo tồn Thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm và phát triển mới trung tâm phục vụ du lịch gắn với hồ Xuân Khanh, các dịch vụ đào tạo, y tế.
+ Đô thị Xuân Mai là đô thị dịch vụ - công nghiệp hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp và hệ thống làng nghề. Phát triển các khu tiểu thủ công nghiệp, các trung tâm dịch vụ về thương mại, đào tạo đại học, cao đẳng.
+ Đô thị Phú Xuyên là đô thị công nghiệp, đầu mối giao thông và trung chuyển hàng hóa. Xây dựng các khu, cụm công nghiệp Đại Xuyên, Quất Động, Phú Xuyên… để di dời công nghiệp từ các khu vực nội đô, khu vực Hà Tây (cũ). Hình thành các trung tâm y tế dịch vụ trung chuyển hàng hóa, các khu nhà ở công nhân và các dịch vụ khác như y tế chất lượng cao, đào tạo nghề…
+ Đô thị Sóc Sơn là đô thị phát triển về dịch vụ, khai thác tiềm năng Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài, hành lang kinh tế Côn Minh - Hà Nội - Quảng Ninh và vùng cảnh quan núi Sóc. Phát triển đô thị, công nghiệp và dịch vụ hàng không, du lịch nghỉ dưỡng sinh thái, hình thành các khu công nghiệp sạch; trung tâm y tế, khu đại học tập trung.”
Tuy nhiên, cho đến nay, bộ mặt các đô thị vệ tinh này chưa rõ nét, thậm chí chưa được bắt tay xây dựng một cách bài bản.
QHHN65 là QH phác thảo bộ mặt đô thị kỹ hơn với Tính chất đô thị:
“- Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội, là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở của các cơ quan trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế.
- Thành phố “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”; là nơi tập trung, bảo tồn và phát huy các giá trị tinh hoa văn hóa vật thể và phi vật thể; là Thủ đô có quy mô tầm cỡ thế giới với hội nhập các giá trị bản sắc văn hóa, lịch sử truyền thống đặc trưng.
- Trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ và hội nhập quốc tế; đô thị thông minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, hạnh phúc; phát triển nhanh, bền vững, có sức lan toả để thúc đẩy vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước cùng phát triển. Có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển đô thị quốc gia; là một trong những trung tâm kinh tế - giao dịch - du lịch và thương mại của khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương.
- Trung tâm liên kết vùng, có vai trò tiên phong dẫn dắt đổi mới, sáng tạo và tạo hiệu ứng lan tỏa của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước.
- Có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng - an ninh khu vực vùng Thủ đô và cả nước.”
Trong mô hình cấu trúc phát triển, QHHN65 chỉ rõ: Hà Nội sẽ là vùng đô thị, đa cực, đa trung tâm, với 05 vùng đô thị gồm: - Vùng đô thị phía Nam sông Hồng; - Vùng đô thị phía Đông; - Vùng đô thị phía Bắc; - Vùng đô thị phía Tây; - Vùng đô thị phía Nam.
Hệ thống đô thị vệ tinh và sinh thái được phân cách bằng hành lang xanh, nêm xanh, liên kết bằng hệ thống giao thông vành đai, hướng tâm.
Cấu trúc khung không gian của Hà Nội sẽ theo các trục giao thông vành đai và hướng tâm: Kết nối đô thị trung tâm, các vùng đô thị và các đô thị vệ tinh thông qua các vành đai: vành đai 1, vành đai 2, vành đai 2,5, vành đai 3, vành đai 3,5, vành đai 4, vành đai 5, cao tốc Tây Bắc... và các trục hướng tâm. QHHN65 định hướng 05 trục không gian quan trọng, đó là Trục Sông Hồng; Trục Hồ Tây - Ba Vì; Trục Hồ Tây - Cổ Loa; Trục Nhật Tân - Nội Bài; Trục Nam Hà Nội.
Đặc biệt QHHN65 còn khẳng định: “Phát triển trục sông Hồng trở thành không gian văn hóa, kinh tế, sinh thái, biểu tượng cho Thủ đô Hà Nội trong quá trình gia nhập các thủ đô toàn cầu, phân thành các khu vực: từ Ba Vì đến cầu Hồng Hà; từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở qua đô thị trung tâm; từ Mễ Sở đến hết Phú Xuyên được phát triển vận tải đường thủy, khai thác du lịch, dịch vụ văn hóa - thể dục thể thao, dịch vụ sinh thái, nông nghiệp”.
Trong Định hướng phát triển không gian theo khu vực, QHHN65 chia toàn bộ Hà Nội thành các khu vực sau:
- Khu vực đô thị phía Nam sông Hồng (Khu vực nội đô và khu vực đô thị mở rộng phía Tây - Nam)
- Khu vực đô thị phía Đông (Long Biên, Gia lâm):
- Khu vực phía Bắc sông Hồng (Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn - có dự kiến phát triển thành phố phía Bắc):
- Khu vực đô thị phía Tây
- Khu vực đô thị phía Nam
Trong đó, chỉ có Khu vực đô thị phía Tây là có 3 khu đô thị được quy hoạch rõ (cả phạm vi, quy mô, tính chất và định hướng phát triển) còn ở các khu vực đô thị còn lại chưa định hình, quy hoạch và gọi tên rõ các khu đô thị thành phần. Nếu so với 5 đô thị vệ tinh trong QHHN30 thì các khu đô thị Phú xuyên và Sóc Sơn chưa được quy hoạch rõ trong QHHN65.
Tuy nhiên, trong Khu vực phía Bắc sông Hồng, QHHN65 có định hướng: “Xây dựng thành phố mới, đô thị hiện đại, đô thị thông minh, năng động, khai thác phát huy tối đa tiềm năng của Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, vị trí giao thoa giữa trục kinh tế Đông - Tây và Bắc - Nam của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, là thành phố xanh - sạch - thông minh, làm đối trọng và bổ trợ cho đô thị trung tâm, kết nối thông qua trục không gian cảnh quan sông Hồng.”, nghĩa là có thể có thành phố trong thành phố? như đã có ở Thành phố Hồ Chí Minh. Và, điều này được xác nhận khi QHHN65 đưa ra các Chương trình, dự án trọng tâm có mục “(5) Xây dựng “Thành phố trong Thủ đô”: tại khu vực phía Tây (Hòa Lạc, Xuân Mai), phía Bắc (Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn) và dự kiến phía Nam (Phú Xuyên, Ứng Hòa)”
Quy hoạch mới nhất đang được lấy ý kiến, QHHN100, đã đưa ra Định hướng phát triển tổng thể không gian đô thị, trong đó Định hướng chung với một số nét đáng quan tâm như:
Phát triển Thủ đô theo mô hình vùng đô thị lớn, gắn với cấu trúc vành đai, hướng tâm và cấu trúc hành lang, tuyến, Đa cực - đa trung tâm, Đa tầng – đa lớp. Phát triển tập trung theo khu vực, hành lang, hạn chế phát triển lan tỏa, tự phát giữa đô thị và nông thôn.
Phát triển vành đai đô thị đồng bộ, hiện đại theo mô hình định hướng giao thông công cộng (TOD) xung quanh nội đô để thu hút nhu cầu phát triển dân số, lao động. Bảo vệ, bảo tồn các giá trị quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan, di tích, di sản đô thị nông thôn hiện có, phát triển thành các giá trị của đô thị.
Kết hợp hài hòa giữa cấu trúc không gian với cấu trúc giao thông, phát triển hệ thống không gian sinh thái tự nhiên dựa trên hệ thống các tuyến sông, hồ trở thành đặc trưng xanh của đô thị nông thôn. Hệ thống đô thị được quy hoạch phát triển theo mô hình đô thị thông minh bền vững, với các khu vực đô thị nén tập trung theo mô hình TOD và các đô thị sinh thái tại khu vực ngoại thành.

Theo từng giai đoạn cũng có Định hướng phát triển không gian quy hoạch tổng thể Thủ đô khá cụ thể, bao gồm:
Diện tích đất phát triển đô thị: 151.000 ha - 168.000 ha (tương đương với 45%-50% tổng diện tích đất toàn Thành phố) cho giai đoạn 2025 – 2045; 184.000 ha - 201.000 ha (tương đương với 55%-60% tổng diện tích đất toàn Thành phố) cho giai đạn 2045 – 2065.
Dân số: Khoảng 15 - 16 triệu người đối với giai đoạn 2025 – 2045 và khoảng 17 - 19 triệu người cho giai đạn 2045 – 2065.
Các khu vực phát triển đô thị Hà Nội giai đoạn 2045–2065 được quy hoạch thánh 12 đô thị lớn, bao gồm:
(1) Đô thị trung tâm (Hữu ngạn sông Hồng): Diện tích: 72.464 ha, dân số đến 2045: 6.495.000 người, đến 2065: 7.095.000 người.
(2) Đô thị phía Bắc: Mê Linh – Đông Anh – Sóc Sơn: Diện tích: 37.205 ha, dân số đến 2045: 3.000.000 người, đến 2065: 3.500.000 người.
(3) Đô thị phía Đông: Gia Lâm – Long Biên: Diện tích: 12.178 ha, dân số đến 2045: 1.200.000 người, đến 2065: 1.500.000 người.
(4) Đô thị phía Nam: Thường Tín – Phú Xuyên: Diện tích: 11.063 ha, dân số đến 2045: 750.000 người, đến 2065: 900.000 người
(5) Đô thị phía Nam: Vân Đình – Đại Nghĩa: Diện tích: 3.500 ha, dân số đến 2045: 250.000 người, đến 2065: 300.000 người.
(6) Đô thị phía Tây Nam: Xuân Mai: Diện tích: 4.558 ha, dân số đến 2045: 350.000 người, đến 2065: 400.000 người.
(7) Đô thị phía Tây: Hòa Lạc: Diện tích: 9.762 ha, dân số đến 2045: 800.000 người, đến 2065: 900.000 người.
(8) Đô thị phía Tây Bắc: Sơn Tây – Tây Đằng – Tân Viên Sơn: Diện tích: 8.500 ha, dân số đến 2045: 700.000 người, đến 2065: 800.000 người.
(9) Đô thị dọc QL32 và trục Tây Thăng Long: Diện tích: 4.500 ha, dân số đến 2045: 300.000 người, đến 2065: 400.000 người.
(10) Đô thị theo tuyến Đại lộ Thăng Long: Diện tích: 3.089 ha, dân số đến 2045: 200.000 người, đến 2065: 250.000 người.
(11) Đô thị theo tuyến QL6: Diện tích: 6.500 ha, dân số đến 2045: 500.000 người, đến 2065: 600.000 người.
(12) Không gian phát triển hai bên sông Hồng (trục cảnh quan sông Hồng): Diện tích: 6.500 ha, dân số đến 2045: 269.000 người, đến 2065: 369.000 người.
Như vậy, hình hài các đô thị đã tương đối rõ, không chỉ là tên mà còn có cả diện tích và quy mô dân số. Vị trí các đô thị cũng được chỉ ra trên hình 1 và chắc rằng một số đô thị có thể thành các thành phố thuộc Thủ đô trong tương lai.
Với 12 khu đô thị như trên, Thuyết minh QHHN100 còn đề xuất 9 cực tăng trưởng, xác lập 09 trục động lực phát triển, quy hoạch 09 trung tâm lớn và ghi rõ chức năng của chúng. Chẳng hạn, “Đô thị Trung tâm (Hữu ngạn Sông Hồng): Đô thị lõi lịch sử và Mở rộng: Cực Văn hóa - Lịch sử - chính trị (chính trị – hành chính – tài chính – văn hóa của Thủ đô) và đô thị Olympic; Cực phía Bắc (Đông Anh - Mê Linh - Sóc Sơn): Cực Động lực Hội nhập (Đô thị dịch vụ, thương mại quốc tế, tài chính, logistics gắn với Cảng hàng không quốc tế cửa ngõ Nội Bài; trung tâm công nghiệp công nghệ cao),… hay Trung tâm đô thị Nam Sông Hồng (Chính trị - hành chính quốc gia và Thành phố; trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ và hội nhập quốc tế); Trung tâm đô thị Bắc Sông Hồng (Kinh tế - Dịch vụ - Hội nhập kinh tế, quốc tế),….; Trục Nhật Tân - Nội Bài/Bắc Thăng Long –Nội Bài: Là trục xương sống hình thành Đô thị phía Bắc cửa ngõ đối ngoại, biểu tượng cho hiện đại và hội nhập của Thủ đô. Phát triển mô hình Đô thị Sân bay gắn liền với Cảng hàng không quốc tế Nội Bài; Trục Hồ Tây – Cổ Loa – Sân bay Gia Bình: Là trục không gian kết nối trung tâm đến vùng kinh tế mới phía Đông Bắc và Sân bay Gia Bình (Bắc Ninh). Hình thành các trung tâm phát triển mới khu đô thị sáng tạo, tài chính – công nghệ cao; thúc đẩy phát triển các khu đô thị hiện đại, dịch vụ chất lượng cao; kết nối Bắc Ninh, trục kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng,…
Đến đây chúng ta đã hình dung rõ hơn viễn cảnh bộ mặt đô thị của Thủ đô Hà Nội với điểm nhấn quy hoạch rõ ràng, chỉ còn chờ bắt tay vào thực hiện để các hạng mục quy hoạch được hoàn thành, phục vụ phát triển Thủ đô và người dân được thụ hưởng thành quả.

Viễn cảnh về chất lượng môi trường (CLMT) và phòng chống thiên tai.
Là người từng thực hiện ĐMC của một số QH trước đây và cũng có một số đề tài nghiên cứu chất lượng môi trường (nước, không khí) Thành phố Hà Nội, chúng tôi rất quan tâm đến viễn cảnh môi trường, tập trung vào chất lượng môi trường nước, không khí. Khi lập QH thường có phần đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường, đánh giá khả năng tác động khi thực hiện các hạng mục QH đến môi trường, dự báo mức CLMT và đề xuất thực hiện các giải pháp hạn chế phát thải, nâng cao CLMT vùng QH. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các vấn đề môi trường chỉ thể hiện rõ trong báo cáo ĐMC còn trong cac Quyết định phê duyệt QH thì ít được đề cập. Rất may, trong văn bản Thuyết minh QHHN100, vấn đề môi trường được đề cập khá cụ thể, chi tiết tất cả những vấn đề nêu trên. Vì vậy, trong bài viết này chỉ xin nêu viễn cảnh môi trường được đề cập trong QH này.
Hiện trạng CLMT, cả nước mặt và không khí được trình bày khá rõ trong phần V từ trang 56 của Thuyết minh QHHN100, trong đó mục 1 trình bày Hiện trạng môi trường Thủ đô Hà Nội với môi trường nước (cả nước mặt và nước ngầm), không khí và đất. Đối với hiện trạng môi trường nước mặt, nhiều nguồn số liệu được thu thập đủ làm rõ hiện trạng nước các sông lớn, các sông nội đô, các hồ lớn, hồ nội đô.
Đối với hiện trạng CL nước mặt:
Chất lượng nước sông Hồng đã được cải thiện dần trong giai đoạn 2011-2022. Đặc biệt chất lượng nước Sông Hồng giai đoạn 2016-2022 duy trì ở mức tốt ở một số khu vực, có thể sử dụng cho nhiều mục đích hơn so với giai đoạn 2011-2015.
Diễn biến chất lượng nước Sông Đáy được theo dõi qua chương trình quan trắc của Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hà Nội và Tổng cục Môi trường (nay là Cục Môi trường) của Bộ Nông nghiệp và Môi trường các năm 2012, 2014, 2016, 2018, 2020, 2022 tại 20 điểm (từ đập Cẩm Bình đến Tiên Mai) vào mùa mưa và mùa ít mưa cho thấy, chất lượng nước Sông Đáy chưa có dấu hiệu được cải thiện, luôn duy trì ở mức kém (WQI: 24-46).
Giai đoạn 2012-2022, chất lượng nước mặt trên Sông Nhuệ chảy qua địa phận TP. Hà Nội được quan trắc tại các thời điểm 2012, 2014, 2018, 2020, 2021,2022 không được cải thiện, đều bị ô nhiễm nặng, chỉ số WQI ở mức rất kém đến kém.
Kết quả quan trắc nhiều năm trên các sông nội thành TP. Hà Nội phản ánh mức độ ô nhiễm rất nặng. Trên sông Tô Lịch, kết quả quan trắc của Sở Tài nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) tại Quan Hoa (phường Cầu Giấy) từ 2017-2020 đã phản ánh nước sông trong tình trạng bị nhiễm độc. Kết quả quan trắc cho thấy, nước sông bị ô nhiễm liên tục trong cả năm.
Kết quả quan trắc giai đoạn 2016-2020 đã ghi nhận chất lượng nước các hồ, ao bị ô nhiễm theo thời gian, chưa được cải thiện (chỉ số WQI giảm qua các năm quan trắc).
Các hồ tự nhiên ngoại thành có chất lượng nước còn tốt, là nguồn nước ngọt quan trọng và bảo tồn đa dạng sinh học. Trong thời gian 2019-2021, tuy chất lượng nước không có sự biến động lớn, nhưng môi trường nước của các hồ này có dấu hiệu bị tác động bởi các chất ô nhiễm từ hoạt động của con người, thể hiện qua hiện tượng phú dưỡng và bùng phát tảo trong hồ.
Đối với môi trường nước dưới đất
Hầu hết nước dưới đất tại các giếng quan trắc trên địa bàn Thành phố đã bị ô nhiễm NH4+ (vượt Quy chuẩn từ vài lần đến vài chục lần). Một số giếng tại các quận Hai Bà Trưng (cũ), Long Biên (cũ), Hoàng Mai (cũ) đã ô nhiễm hữu cơ (thông qua COD). Nước dưới đất tại các quận/huyện cũ như Hai Bà Trưng, Ba Đình, Hà Đông, Thanh Xuân, Tây Hồ, Hoàng Mai, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Thanh Trì, Đông Anh đã bị ô nhiễm Fe. Nước dưới đất ở các quận/huyện Hai Bà Trưng, Ba Đình, Thanh Xuân, Long Biên, Đông Anh đã bị ô nhiễm Mn. Các giếng khu vực quận/huyện Hoàng Mai, Đông Anh, Long Biên, Thanh Trì... có dấu hiệu ô nhiễm As trong nhiều năm quan trắc. Tại các giếng quan trắc chưa ghi nhận ô nhiễm NO2- và NO3-.
Đối với môi trường không khí (CLKK)
Những năm gần đây, CLMT không khí thu hút sự quan tâm của nhiều người, một mặt vì chúng ta chưa có các đợt kiểm kê khí thải, mặt khác hệ thống đo đạc/monitoring CLKK vẫn còn nhiều hạn chế nên cả nguyên nhân, thực trạng CLKK vẫn còn nhiều điều chưa được làm rõ. Theo nghiên cứu của chúng tôi thì chúng ta còn thiếu nhiều thông tin liên quan đến phát thải chất ô nhiễm không khí, đặc biệt là bụi mịn (PM2,5) và thiếu số liệu đo đạc CLKK đủ độ tin cậy để đánh giá đúng hiện trạng CLKK. Hơn nữa, những vấn đề về ảnh hưởng của các điều kiện khí tượng (cùng các tiến chất khác) đẫn đến hình thành bụi, chất ô nhiễm thứ cấp và làm giảm/ngăn cản khuếch tán chất ô nhiễm gây ô nhiễm nặng vào các tháng mùa Đông cũng chưa được lý giải để tìm cách giải quyết.
Do tham khảo được nhiều nguồn tài liệu, số liệu nên theo chúng tôi, phần viết về hiện trạng quản lý CLKK và thực trạng CLKK trong QHHN100 phản ánh tương đối chính xác thực tiễn thời gian qua. Cụ thể như:
Kết quả quan trắc môi trường không khí thời kỳ 2011-2022 tại các trạm tự động, liên tục và các vị trí quan trắc định kỳ trong mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia và Thành phố đều ghi nhận, tình trạng ô nhiễm bụi tổng số (TSP), PM10, MP2.5 trên địa bàn TP. Hà Nội luôn là vấn đề nóng, đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý môi trường.
Mức độ ô nhiễm bụi trên địa bàn TP. Hà Nội cao hơn so với các đô thị khác trong cả nước và có sự biến động qua các năm. Giá trị trung bình năm giá trị của thông số bụi PM2.5 và PM10 tại tất cả các trạm quan trắc môi trường không khí tự động, liên tục tại Hà Nội giai đoạn năm 2015-2022 đều vượt quá giới hạn cho phép so với QCVN 05:2013/BTNMT từ 1,1 - 2,2 lần.
Chất lượng không khí trên địa bàn TP. Hà Nội có sự phân hóa theo quy luật mùa trong năm. Xu hướng biến động giá trị thông số bụi PM10 và PM2.5 tăng cao vào thời gian mùa đông, ít mưa, trong khoảng từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau.
Quả thật CLKK của Hà Nội cần được quan tâm, cả về nghiên cứu cơ bản để tìm ra đúng nguyên nhân gây ô nhiễm, từ kiểm kê, tính toán, xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải các chất ô nhiễm đến phân tích thành phần chất có trong bụi, xác định sự hình thành chất ô nhiễm thứ cấp (đặc biệt là PM2,5) cũng như ảnh hưởng của các điều kiện khí tượng đến CLKK của Hà Nội. Hiện tại mạng lưới các trạm quan trắc CLKK đạt chuẩn (tự động, cố định, quan trắc liên tục) của Hà Nội còn hạn chế nên chưa đủ dữ liệu đánh giá đúng mức độ và phân bố không gian của CLKK cần được nhanh chóng nâng cấp.
Đây là những việc phải được ưu tiên trong giai đoạn đến năm 2030, góp phần hiểu đúng bản chất của tình trạng CLKK ở mức kém, rất kém trong nhiều ngày ở Hà Nội. Một vấn đề nữa rất quan trọng là tìm giải pháp hạn chế suy giảm CLKK, phải giảm phát thải nhưng làm rõ giảm ở ngành nào, cơ sở sản xuất nào, mức giảm bao nhiêu để giảm được nồng độ chất ô nhiễm, đặc biệt là bụi mịn. Đây là bài toán không chỉ mình Hà Nội làm được mà phải có sự phối hợp của các địa phương khác trong khu vực. Bởi vì, nồng độ chất ô nhiễm của Hà Nội có phần đóng góp của phát thải từ các vùng lân cận, thậm chí từ nước ngoài nên phải có những mô hình tính toán xem xét tác động của các nguồn thải (cả trong và ngoài Hà Nội), ảnh hưởng của điều kiện khí tượng để xác định, xây dựng được được bản đồ phân bố nồng độ chất ô nhiễm, tiến tới dự báo được tình hình ô nhiễm theo các hạn mức thời gian khác nhau. Nếu có được mô hình tốt thì còn giúp đánh giá được hiệu quả của các giải pháp cải thiện CLKK được thực thi.
Tôi không rõ có cần nêu các giải pháp cải thiện CLKK trong một bản QH không nhưng nếu xác định được một số giải pháp chính đưa vào quy hoạch thì giúp mọi người tin tưởng hơn viễn cảnh CLKK sẽ được cải thiện trong tương lai mà còn để Nhà nước có kế hoạch đầu tư cho các dự án nâng cao CLKK. Tra trong QHHN100 chúng tôi chưa thấy nhiều giải pháp như vậy, tuy nhiên cũng có một số giải pháp cho các vùng môi trương như Vùng bảo vệ không khí nghiêm ngặt, Vùng kiểm soát phát thải cao, ví dụ như: “Thực hiện kiểm kê phát thải định kỳ; áp dụng cơ chế hạn ngạch phát thải đối với các ngành có nguy cơ ô nhiễm cao”.
Mặc dù còn hạn chế trong việc tìm kiếm giải pháp cải thiên CLKK nhưng chúng tôi rất ấn tượng với những mục tiêu/tiêu chí CLKK đặt ra trong QHHN100. Có lẽ đây là bản QH đưa ra được những tiêu chí rất cụ thể mang tính định lượng cho từng giai đoạn về CLKK giúp người dân có thể theo dõi được kết quả thực hiện QH sau này. Trong phần IV. Phương án bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, mục 4.1. Định hướng bảo vệ môi trường từ trang 1091 nêu rất rõ:
(3) Môi trường không khí
- Đến năm 2030:
+ Kiểm soát ô nhiễm không khí, đặc biệt là bụi mịn PM2.5, là nhiệm vụ cấp bách, xuyên suốt, gắn với chuyển đổi mô hình phát triển đô thị theo hướng xanh, ít phát thải.
+ Hoàn thành việc di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm không khí ra khỏi vùng bảo vệ nghiêm ngặt và vùng hạn chế phát thải, đến các CCN đã xây dựng hệ thống xử lý khí thải và hạ tầng môi trường liên quan khác.
+ Phấn đấu 75-80% số ngày trong năm (theo số liệu các trạm quan trắc môi trường quốc gia và mạng lưới quan trắc môi trường Thành phố) có chỉ số chất lượng không khí (VN_AQI) ở mức tốt và trung bình.
+ Kiểm soát nồng độ PM2.5 trung bình ở phần lớn các trạm chuẩn trong khu vực nội đô dưới mức 40 μg/Nm3 và dưới mức 35 μg/Nm3 đối với các khu vực ngoại thành.
+ Giảm phát thải PM2.5 từ các nguồn thải chính: tổng phát thải bụi PM2.5 trên toàn Thành phố giảm khoảng 20% so với năm cơ sở (năm 2020), tương đương với tổng lượng phát thải giảm 6.200 tấn PM2.5.
+ Kiểm soát nồng độ của các thông số SO2, NO2, CO, O3 trong môi trường không khí xung quanh nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật.
- Đến năm 2035:
+ Chất lượng môi trường không khí trên địa bàn Thủ đô Hà Nội tiếp tục được cải thiện; nồng độ bụi min PM2.5 và các khí độc được kiểm soát chặt chẽ và nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật.
+ Hoàn thiện cơ bản mạng lưới quan trắc chất lượng không khí tự động, liên tục tại các điểm nút và trục giao thông chính, đặc biệt tại các điểm có mật độ giao thông cao trong giờ cao điểm, các điểm nóng về ô nhiễm không khí trong khu vực nội thành.
- Đến năm 2045: Môi trường không khí của Thủ đô Hà Nội có chất lượng tốt; các nguồn thải được kiểm soát chặt chẽ; nồng độ bụi min PM2.5 và các khí độc được kiểm soát chặt chẽ và nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật.”
Theo hiểu biết của chúng tôi, các tiêu chí nêu trên có cơ sở khoa học, tính đến hiện trạng CLKK Hà Nội, kinh nghiệm cải thiện CLKK nhiều nước (điển hình là Trung Quốc) và tính khả thi cao. Quả thật cải thiện CLKK của một thành phố như Hà Nội không phải là nhiệm vụ dễ thực hiện và sẽ phải đầu tư nhiều cả về quyết tâm chính trị, đầu tư kinh phí, nhân lực, vật lực, thực hiện bền bỉ, liên tục, lâu dài mới đạt được mong muốn/tiêu chí đặt ra trong QHHN100. Có lẽ nhiều người thấy chỉ tiêu như vậy chưa đáp ứng được mong muốn, khi nồng độ trung bình năm của bụi mịn (PM2,5) đến năm 2030 và có lẽ đến tận 2035 vẫn còn cao hơn quy chuẩn cho phép nhưng để đạt được mục tiêu này phải có quyết tâm cao của lãnh đạo, sự vào cuộc của cả cộng đồng và huy động được nguồn lực lớn để thực hiên.
Tính khả thi cao còn được chúng tôi tin tưởng khi tham khảo thêm Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được ban hành theo Quyết định Số: 2530/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2025. Mục tiêu đặt ra trong Kế hoạch này ăn khớp nhau thể hiện tính đồng thuận cao giữa cơ quan lập QH và cơ quan lập Kế hoạch, cụ thể giai đoạn 2026 – 2030:
“- Tại thành phố Hà Nội, nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm vào năm 2030 đạt dưới 40 μg/m3 (giảm 20% so với mức trung bình năm 2024) tại các điểm đo của các trạm quan trắc chất lượng môi trường không khí quốc gia; các thông số chất lượng môi trường không khí khác được duy trì, bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Tỷ lệ số ngày trong năm có chỉ số chất lượng môi trường không khí (VN_AQI) ở mức tốt và trung bình đạt tối thiểu 80%.”
Nếu theo trình tự thì sau khi có QH thì sẽ có các kế hoạch thực hiện nhưng chắc chắn sự đồng thuận nêu trên cho thấy khả năng thực thi QH được đảm bảo.
Đọc kỹ hơn tiêu chí về số lượng trạm quan trắc CLKK chuẩn (tự động, cố định, liên tục) đưa ra trong QHHN100 (bảng 3.66) chúng tôi thấy cần điều chỉnh thêm số lượng. Mục tiêu đến năm 2030 mà chỉ có 7 trạm (được lấy theo Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 07-03-2024) được lắp đặt thì không đủ làm rõ phân bố CLKK toàn Hà Nội, trong đó thiếu các trạm đầu gió, trạm nền chung toàn thành phố và trạm nền đô thị. Theo chúng tôi phải có Dự án xây dựng mạng lưới quan trắc CLKK đủ cơ sở khoa học và số lượng đủ lớn để có thể đánh giá đúng mức chất lượng và phân bố trong phạm vi toàn thành phố. Các nhà khoa học cũng đã lập quy hoạch các trạm loại này từ rất lâu nhưng không được áp dụng mà không hiểu nguyên nhân tại sao. Ngay cả một tỉnh nhỏ trước đây (tỉnh Bắc Ninh cũ) mà họ có thể đầu tư có lúc đến 17 trạm chuẩn như vậy, trong đó Hà Nội và một số tỉnh thành phố lớn lại có rất ít trạm, phải tìm hiểu rõ nguyên nhân để khắc phục.
Do không có nhiều thời gian và cũng không thuộc chuyên môn sâu nhưng chúng tôi vẫn đề nghị rà soát lại các vấn đề có thể xảy ra đối với viễn cảnh nước mặt, nước ngầm trong QHHN 100.
Đọc kỹ hơn, chúng tôi thấy việc phân vùng môi trường cũng cần xem xét thêm, chẳng hạn trong bảng 3.62: Phương án phân vùng môi trường thủ đô Hà Nội (tr 1103- QHHN100), vùng bảo vệ nghiêm ngặt có khu dân cư tập trung của các phường (51 phường hiện có và trong QH) là chưa chuẩn, chưa đúng với Tiêu chí phân vùng môi trường (của Nghị định 08/2022/NĐ-CP):
2. Vùng bảo vệ nghiêm ngặt bao gồm:
a) Khu dân cư tập trung ở đô thị bao gồm: nội thành, nội thị của các đô thị đặc biệt, loại I, loại II, loại III theo quy định của pháp luật về phân loại đô thị;”
Theo đó, Vùng bảo vệ nghiêm ngặt bao gồm nội thành, nội thị của các đô thị đặc biệt, loại I, loại II, loại III theo quy định của pháp luật về phân loại đô thị chứ không phải chỉ là khu dân cư của các phường. Và có lẽ nhầm lẫn như vậy nên diện tích Khu dân cư tập trung của các phường chỉ ra trên bảng 3.62 chỉ là 898,62 ha.

Viễn cảnh giải quyết tình trạng ngập lụt
Một trong những điều mà người Hà Nội vẫn nơm nớp lo ngại là ngập lụt, nhất là ngập lụt đô thị. Cảnh tượng này thật sự đã gây kinh hoàng cho nhiều người, gây khó khăn cho cư dân, cho nhiều cơ quan trong khoảng thời gian khá dài. Thật sự, hiện tượng này phụ thuộc nhiều vào tình hình thời tiết, ngập lụt xuất hiện khi lượng mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn. Không chỉ Hà Nội mà nhiều thành phố, thủ đô trên Thế giới cũng không thoát khỏi cảnh tượng này, kể cả ở các nước phát triển. Tuy nhiên ở một số nước có quy hoạch thoát nước đô thị lớn, tình trạng ngập lụt đô thị được kiểm soát, giảm thiểu ở mức chấp nhận được.
Ví dụ rõ nhất là QH thành phố Paris, thủ đô nước Pháp với hệ thống thoát nước ngầm được quy hoạch như một công trình ngầm (còn gọi là thành phố ngầm). Tìm kiếm thông tin trên mạng, chúng tôi may mắn tìm được bài viết của Mỹ Linh, phóng viên Đài THVN thường trú tại châu Âu đăng trên VTVonline ngày 11/09/2022 ca ngợi Hệ thống cống ngầm dưới lòng thành phố - niềm tự hào của thủ đô nước Pháp. Bài báo cho biết, hệ thống cống ngầm ở thủ đô nước Pháp không chỉ giúp cho Paris xử lý tốt các vấn đề cấp thoát nước mà ngày nay còn là một ví dụ nghiên cứu cho các vấn đề xử lý nước thải và chống ngập. Ngoài ra, hệ thống này còn trở thành nơi thu hút những người quan tâm trong và ngoài nước Pháp đến tham quan. Không phải là thắng cảnh thiên nhiên nhưng cống ngầm Paris là thành quả một chương trinh quy hoạch thành phố thành công từ thế kỷ thứ 19 mà người Pháp rất tự hào.
Như vậy, QH xây dựng một thành phố phải rất chú trọng QH hệ thống thoát nước và thường thì hệ thống này phải được xây dựng trước khi xây dựng các công trình khác.
Rà soát QHHN30 và QHHN65, vấn đề tiêu thoát nước chưa được đề cập nhiều, mới chỉ nêu ở mức chung chung kiểu như phải làm điều này điều nọ, chưa đưa thành mô hình, dự án mang tính thuyết phục.
Tuy nhiên, QHHN100 đã khái quát hóa được hiện trạng tình hình này: “Hiện tượng ngập lụt đô thị ở TP. Hà Nội đang trở thành thách thức lớn trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và biến đổi khí hậu. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, nguyên nhân chính của ngập lụt bao gồm hệ thống thoát nước đô thị lạc hậu, quy hoạch và đầu tư hạ tầng không theo kịp tốc độ đô thị hóa, mật độ bê tông hóa tăng cao làm giảm khả năng thấm nước và lượng mưa gia tăng vượt quá thiết kế của hệ thống thoát nước. Hệ thống thoát nước hiện tại chỉ được thiết kế để xử lý khoảng 310 mm mưa trong hai ngày, trong khi những cơn mưa lớn gần đây có thể đạt đến 500 mm trong một ngày, dẫn đến tình trạng quá tải và ngập trên diện rộng. Ngoài ra, việc quy hoạch xây dựng trên vùng trũng và thiếu sự kết nối giữa hệ thống thoát nước của các khu đô thị mới với mạng lưới thoát nước toàn Thành phố làm gia tăng nguy cơ ngập úng ở các khu vực phía Tây và Nam TP. Hà Nội”.
Theo dõi kỹ hơn chúng tôi thấy trong QHHN100 cũng không đưa ra được mục tiêu và phương án QH cụ thể để giảm thiểu tình trạng ngập lụt của Hà Nội. Các giải pháp công trình, phi công trình cũng còn chung chung, chưa có những dự án có tính khả thi cao, đặc biệt chưa tìm được nguyên lý thoát nước sẽ được áp dụng (thoát nước bằng hệ thống sông, mương, hệ thống bơm trên mặt đất hay bằng các công trình ngầm chẳng hạn) và cũng chưa dự toán được mức kinh phí (có lẽ là khá lớn) dành cho xây dựng, vận hành hệ thống này.
Còn nữa...
GS Hoàng Xuân Cơ
Hội Kinh tế môi trường Việt Nam








