Bước tới đèo Ngang bóng xế tà - Kỳ 3: 'Thiên hạ đệ nhất hùng quan' phía bắc

07/06/2026 12:31

Đứng trước cửa ải Hoành Sơn Quan rêu phong hôm nay, tôi lật lại những trang Đại Nam thực lục và chợt nhận ra đây không chỉ là một cái cổng đá đơn thuần mà là hiện thân của một tư duy quản trị quốc gia cực kỳ chặt chẽ dưới thời Nguyễn.

đèo ngang - Ảnh 1.

Hình khắc Hoành Sơn Quan trên Huyền Đỉnh thuộc bảo vật Cửu Đỉnh trong Hoàng cung Huế - Ảnh: THÁI LỘC

Nếu Hải Vân Quan là "yết hầu" bảo vệ kinh đô từ phía nam, thì Hoành Sơn Quan chính là "cánh tay trái" kiên cường án ngữ cửa ngõ phía bắc kinh đô Huế một thời.

Phòng thủ từ xa cho đất kinh đô

Sau những thăng trầm thời phân tranh, khi vương triều Nguyễn chính thức thống nhất giang sơn vào năm 1802, đèo Ngang không còn là chiến tuyến chia cắt mà trở thành "yết hầu" hành chính và quân sự của quốc gia.

Ngược dòng thời gian về mùa xuân năm Quý Tỵ (1833), Nguyễn Thánh Tổ (Minh Mạng) - vị quân vương nổi tiếng với những cải cách hành chính và quân sự sâu rộng - đã ban một chỉ dụ quan trọng.

Sách Đại Nam thực lục ghi lời chia sẻ của nhà vua: "Trẫm nghĩ Quảng Bình phía nam gần kinh kỳ, phía bắc có Hoành Sơn, là nơi rất xung yếu, thành trì không thể không làm cho kiên cố". Từ tư duy phòng thủ từ xa, nhà vua quyết định thiết lập một cửa ải chính thức ngay trên đỉnh đèo Ngang.

Sử liệu triều Nguyễn chép tỉ mỉ: Triều đình đã huy động 300 biền binh từ hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Thự thị lang Bộ Công Đoàn Văn Phú đi đắp thành, xây ải ở đèo Ngang.

Sách Đại Nam thực lục ghi: "Khi Phú đi, vua dụ bảo rằng: "Nay Nam, Bắc một nhà, bốn phương vô sự, trong có các cửa ải Quảng Bình, Vũ Thắng là nơi hiểm yếu đủ cậy rồi. Còn cửa ải Hoành Sơn này lập nên chỉ để xét hỏi quân gian, cũng là một đồn phân phòng đó thôi. Ngươi nên xét kỹ hình thế, trù tính việc làm, cốt sao đỡ tốn".

Khi ấy công việc của Bộ Công ở kinh đô quá tải, Đoàn Văn Phú được rút về, vua sai Trần Văn Tuân, Thự bố chính Quảng Bình, đảm trách công việc.

Đại Nam thực lục ghi kích thước công trình: "Cửa ải ở trên đỉnh núi, chung quanh xây tường bằng đá núi, dài 11 trượng 8 thước, cao 5 thước, đằng trước mở 1 cửa, bên tả bên hữu có tường ngăn, xây theo thế núi; bên tả dài 36 trượng, bên hữu dài 39 trượng; có chỗ cao 3, 4 thước, có chỗ cao 5, 6 thước không chừng. Trong dựng một trại lính 3 gian để làm chỗ biền binh đóng giữ".

Điều khiến các nhà nghiên cứu ngày nay kinh ngạc chính là tốc độ thi công: toàn bộ công trình kiên cố này được hoàn thành chỉ trong vòng vỏn vẹn một tháng.

Mục đích của việc dựng quan ải được Nguyễn Thánh Tổ căn dặn thuộc cấp rất rõ ràng, mang đậm tính giải mật về quản trị an ninh: "lập nên chỉ để xét hỏi quân gian".

"Xét hỏi quân gian" ở đây chính là chức năng kiểm soát an ninh đường thiên lý dẫn vào kinh đô, quản lý lữ khách, thu thuế và ngăn chặn mầm mống bất ổn từ phía bắc tràn vào vùng trực kỳ để bảo vệ ngai vàng. Sau khi hoàn thành, triều đình phái ngay một suất đội và 20 lính Quảng Bình đến đóng giữ, định lệ thay phiên hằng tháng...

Kiến trúc "tùy sơn tác thế"

Về mặt kiến trúc, Hoành Sơn Quan là một mẫu hình tiêu biểu cho kỹ thuật xây dựng quân sự triều Nguyễn. Theo khảo sát thực địa và đối chiếu thạch bản, cửa quan được xây dựng bằng "gạch vồ" - loại gạch đặc trưng thời Nguyễn với độ nung cao và những tảng đá núi tại chỗ.

Hệ thống vữa kết dính ở đây là một tuyệt chiêu công nghệ của người xưa: sử dụng hỗn hợp vôi, cát, mật mía và đặc biệt là cây dây tơ hồng (thổ ty đằng) được giã nát, tạo nên độ gắn kết cực kỳ bền bỉ trước khí hậu khắc nghiệt, gió biển và bão dông của dải đất miền Trung.

TS Trần Đình Hằng - Phân viện trưởng Phân viện Văn hóa, nghệ thuật, thể thao và du lịch miền Trung - nhấn mạnh vai trò của Hoành Sơn Quan như một "biểu tượng ký ức lịch sử", nơi kiến trúc nhân tạo hòa quyện hoàn hảo với địa thế núi rừng theo nguyên tắc "tùy sơn tác thế".

Cổng ải cao hơn 4m, chiều rộng lòng cổng 2,77m, phía trên vòm cổng có biển ngạch khắc ba chữ Hán lớn: Hoành Sơn Quan. Một chi tiết mang tính giải mật quân sự là cánh cửa gỗ của quan ải luôn mở vào phía trong (về phía Quảng Bình).

Các chuyên gia phân tích rằng thiết kế này giúp quân binh phòng thủ dễ dàng đóng sập cửa khi bị tấn công từ bên ngoài và cánh cổng sẽ trở thành một tấm chắn an toàn cho binh sĩ bên trong.

Hai bên cổng là hệ thống tường thành đá núi chạy dài hơn 30m, bám sát triền núi theo dạng bậc thang, tạo nên một trận đồ phòng thủ liên hoàn. Từ cung đèo phía Hà Tĩnh nhìn lên, những bậc thang đá cổ như những nấc thang dẫn thẳng lên "cổng trời", uy nghiêm giữa mây ngàn.

đèo ngang - Ảnh 2.

Từ hệ thống quan ải gồm cổng thành, lũy đá, bảo canh, lối đi lại… đến nay chỉ còn chiếc cổng Hoành Sơn Quan - Ảnh: THÁI LỘC

"Thuộc về quốc gia"

Trong sơ đồ địa chính trị thời bấy giờ, Hoành Sơn Quan không đứng đơn lẻ. Nguyễn Thánh Tổ đã thiết lập một hệ thống phòng thủ lưỡng đầu: Hoành Sơn Quan ở phía bắc và Hải Vân Quan ở phía nam. Đây được coi là hai "lá chắn kiên cố nhất trên trục lộ duy nhất dẫn vào thủ phủ Thuận Hóa - Phú Xuân.

Nếu Hải Vân Quan được xưng tụng là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" thì Hoành Sơn Quan, với vị thế trấn giữ vùng biên viễn khắc nghiệt, chính là cửa ngõ kiểm soát toàn bộ lưu thông từ Bắc Hà vào vùng lõi quyền lực của vương triều.

Tầm quan trọng của Hoành Sơn Quan còn được nâng lên cấp độ biểu tượng chủ quyền quốc gia tối cao. Năm 1837, khi vua Minh Mạng cho đúc Cửu Đỉnh - bảo vật tượng trưng cho sự vững bền của xã tắc đặt trước Thế Tổ Miếu - hình ảnh núi Hoành Sơn và cửa ải Hoành Sơn Quan nằm trong lòng nó đã được khắc trang trọng vào Huyền Đỉnh.

ThS Nguyễn Trí Sơn, chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Hà Tĩnh, khẳng định: "Di tích Hoành Sơn Quan xét về mặt lịch sử không thuộc riêng một tỉnh nào mà thuộc về quốc gia - triều Nguyễn". Đó là một mắt xích không thể tách rời trong chuỗi di sản phòng thủ miền Trung.

Mỗi viên gạch vồ, mỗi bậc đá ở đèo Ngang hôm nay vẫn còn đang kể tiếp câu chuyện về một thời đại mà cha ông ta đã dùng trí tuệ và mồ hôi để dựng lên những bức tường thành bằng đá và bằng cả lòng tự tôn dân tộc giữa mây trời vạn dặm.

"Hoành Sơn Quan không chỉ là nơi canh phòng đơn thuần mà còn là công cụ để triều đình thực thi quyền lực, kiểm soát dân cư, điều tiết hoạt động thương mại và duy trì ổn định xã hội trên tuyến giao thông chiến lược.

Đồng thời việc đặt một công trình quy mô tại vị trí hiểm yếu trên đèo Ngang phản ánh nhận thức sâu sắc của triều Nguyễn về tầm quan trọng của những nơi xung yếu trong công cuộc bảo vệ đất nước.

Trong bối cảnh giao thông đương thời chủ yếu dựa vào đường bộ và đường ven biển, những cửa ải như Hoành Sơn Quan giữ vai trò như lá chắn tự nhiên kết hợp với nhân tạo, vừa ngăn ngừa các mối đe dọa từ bên ngoài vừa kiểm soát hiệu quả các biến động từ bên trong.

Cũng cần nói trên rằng Hoành Sơn Quan ngoài chức năng quân sự thì còn hàm chứa giá trị thẩm mỹ và biểu tượng sâu sắc. Dòng chữ Hán khắc trên cổng không đơn thuần chức năng định danh của một công trình mà còn thể hiện quyền lực của triều đình trung ương, khẳng định sự hiện diện của nhà nước trên một vị trí chiến lược và cho thấy ý thức rõ ràng về quản lý lãnh thổ".

Nguyễn Hữu Phúc (Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế) và Nguyễn Đăng Mạnh (Trường ĐH Đông Á)

-------------------------------

Kỳ tới: Mật độ thơ ca nhiều... nhất Việt Nam

Đọc tiếp Về trang Chủ đề

Bạn đang đọc bài viết "Bước tới đèo Ngang bóng xế tà - Kỳ 3: 'Thiên hạ đệ nhất hùng quan' phía bắc" tại chuyên mục TIN TỨC. Mọi bài vở cộng tác xin gọi hotline (0987.245.378hoặc gửi về địa chỉ email (info.vstarmedia2018@gmail.com).