
Cuộc gặp gỡ định đoạt thế cuộc dầu mỏ giữa Roosevelt và Abdul Aziz ibn Saud - Ảnh: History.com
Từ mục đích quân sự
Kỷ nguyên dầu mỏ có thể được coi là đã mở ra ngay trước Thế chiến 1 với tuyên bố trước nghị viện vào năm 1914 của Bộ trưởng hải quân Winston Churchill, người sau này trở thành vị thủ tướng huyền thoại lãnh đạo nước Anh trong Thế chiến 2: "Chúng ta không được phép phụ thuộc vào bất kỳ một phẩm cấp, một quy trình, một quốc gia, một lộ trình hay một mỏ dầu riêng biệt nào. Sự an toàn và chắc chắn của nguồn dầu nằm ở sự đa dạng và chỉ có đa dạng mà thôi".
Trước Thế chiến 1, dầu mỏ được sử dụng còn hạn chế với mục đích chủ yếu là thắp sáng. Năm 1914, than đá vẫn giữ ngôi vương, cung cấp tới 74% nguồn cung năng lượng cho thế giới, so với chỉ 5% dầu mỏ. Năm 1907, giá trị thương mại than đá Anh là hơn 52 tỉ bảng, trong khi tổng giá trị sản phẩm dầu mỏ xuất khẩu từ Mỹ mới khoảng 19 triệu bảng.
Suốt một thế kỷ trước cuộc chiến, ưu thế địa chính trị của Anh được đảm bảo bởi hạm đội tàu hơi nước và vào đầu thế kỷ 20 Anh là nước xuất khẩu năng lượng hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, Thế chiến 1 đã gây đứt gãy nghiêm trọng với xu hướng này và mối lo về quyền tiếp cận dầu mỏ, như tuyên bố nổi tiếng của Churchill, trở thành chìa khóa cho những động lực địa chính trị đang thay đổi.
Những động lực này gia tăng mạnh mẽ với cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên trong lịch sử vào năm 1917, điều sẽ còn lặp lại nhiều lần nữa trong tương lai như chính những gì chúng ta đang được trải nghiệm hiện nay.
Lượng dầu tiêu thụ ngày càng tăng do nhu cầu cho các quân đội ở châu Âu, trong khi các tuyến cung cấp thường xuyên bị gián đoạn bởi các cuộc tấn công qua lại, nhất là do hoạt động tàu ngầm Đức, thứ vũ khí rất mới mẻ và lúc bấy giờ vô cùng khó đối phó. Dưới áp lực gay gắt, Mỹ, Anh và nhiều nước khác buộc phải hội nhập chặt chẽ hơn trong hoạt động cung ứng.
Căng thẳng địa chính trị cũng gia tăng ở Trung Đông vì cuộc săn lùng dầu mỏ khi Anh cố gắng giành quyền kiểm soát các mỏ dầu quan trọng ở Iraq. Hiệp ước Sykes-Picot ký năm 1916 giữa Anh và Pháp phân chia vùng Lưỡng Hà càng khuếch đại ý nghĩa địa chính trị của Trung Đông, dẫn đến căng thẳng gia tăng giữa các cường quốc sau chiến tranh.
Thay đổi rộng lớn về địa chính trị bắt nguồn từ những thách thức kỹ thuật - xã hội cụ thể về năng lượng, thực phẩm và đi lại của một thời kỳ nhảy vọt về nhiều mặt trong đời sống nhân loại.
Từ trước Thế chiến 1, ưu thế tàu chạy dầu đã được nhiều lực lượng hải quân trên thế giới nhận ra. Dầu có nhiệt lượng gấp đôi than đá, tức cần ít không gian lưu trữ hơn; hoạt động hậu cần tiếp liệu trên biển dễ dàng hơn; ít phụ thuộc vào các bến cảng hơn; giúp tàu thuyền linh hoạt hơn về tốc độ và cần ít nhân lực hơn.
Tàu chạy dầu phun khói ít hơn cũng đồng nghĩa với lợi thế lớn khi pháo kích mục tiêu ven bờ hay cần di chuyển bí mật. Trước và sau Thế chiến 1, tỉ lệ tàu chạy dầu của hải quân Anh tăng từ 5% lên hơn 40%. Hải quân Đức thậm chí chỉ còn toàn tàu chạy dầu vào cuối cuộc chiến.
Quan trọng không kém là những thay đổi trên bộ. Ô tô và xe tải động cơ đốt trong chỉ là phân khúc nhỏ trong hệ thống giao thông trước chiến tranh. Nhưng Anh và Mỹ đã sử dụng các phương tiện này ngày càng nhiều để tạo lợi thế chiến thuật về hậu cần, khi vận tải đường sắt gặp phải nhiều vấn đề nghiêm trọng.
Thế chiến 1 được coi là đỉnh cao của "kỷ nguyên đường sắt" phụ thuộc vào than đá nhưng từ sau đó, những chiếc xe chạy bằng xăng dầu cơ động hơn nhiều sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối so với các toa xe lửa cồng kềnh, dễ trúng đạn và hệ thống đường ray độc đạo.
Thực tế mới về "chiến tranh trên không" cũng xuất hiện. Máy bay, còn ở giai đoạn phôi thai, góp phần làm tăng nhu cầu về sản phẩm xăng dầu. Ở Anh, ngành công nghiệp máy bay tăng tốc sản lượng trong suốt cuộc chiến, từ khoảng 10 chiếc mỗi tháng vào đầu chiến tranh lên 122 chiếc vào năm 1917 và 2.688 chiếc vào năm 1918.

Đường ống Big Inch, một trong những đường ống dầu mỏ đầu tiên ở Mỹ, đoạn đi qua Phoenixville, Pennsylvania năm 1943 - Ảnh: The Conversation
Tới tham vọng địa chính trị
Rất nhanh chóng, cuộc chiến thế giới tạo ra cơn cuồng dầu mỏ tác động sâu sắc lên quan hệ quốc tế hậu chiến. Những năm 1920 là giai đoạn đầy bất ổn với nguồn cung dầu toàn cầu.
Nước Anh lúc này nắm giữ 50% trữ lượng dầu được biết đến của thế giới qua các thuộc địa rộng mênh mông. Đòi hỏi phân chia "sòng phẳng" giữa các cường quốc sau đó dẫn tới Hiệp định "Lằn ranh đỏ" ký ở Achnacarry (Scotland) năm 1928 nhằm kiểm soát giá dầu toàn cầu và hình thành các liên minh độc quyền dầu mỏ.
Cùng với hiệp định này, liên doanh dầu mỏ "Bảy chị em" (Seven Sisters) ra đời. Qua đó, các công ty dầu mỏ lớn nhất thế giới đồng ý ngừng thăm dò độc lập trong lãnh thổ Đế quốc Ottoman cũ mà phối hợp với nhau để kiểm soát nguồn vàng đen, điều sẽ để lại những hệ lụy rất lâu dài.
Chiến lược độc lập dầu mỏ của Anh trong những năm giữa hai cuộc chiến khác biệt đáng kể so với Đức, điều cuối cùng đã tác động hệ trọng đến Thế chiến 2. Gượng dậy sau thất bại, Đức thiết lập ngành công nghiệp nhiên liệu tổng hợp để đáp ứng nhu cầu dầu ngày càng tăng khi họ tiếp tục công nghiệp hóa và tái vũ trang vào những năm 1930.
Quy trình thâm dụng năng lượng để sản xuất dầu tổng hợp từ than của Đức khiến tư tưởng mở rộng lãnh thổ để giành lấy các nguồn dầu thô trở thành yếu tố then chốt trong kế hoạch quân sự và chiến lược chiến tranh của chế độ quốc xã.
Ở Mỹ, sản xuất và tiêu thụ dầu tiếp tục tăng đều đặn với sự trỗi dậy của văn hóa xe hơi và tiêu dùng đại chúng. Lượng máy bay quân sự dư thừa từ Thế chiến 1 cũng có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển xã hội sau chiến tranh ở Mỹ: trong 10.000 chiếc máy bay dư thừa, một số được chuyển sang mục đích dân sự như chuyển phát thư.
Tuy nhiên phải đến Thế chiến 2, quá trình "xăng dầu hóa nông nghiệp" mới thực sự tăng tốc cùng với sự tăng tốc về xây dựng hạ tầng cao tốc liên bang, dẫn đến dầu mỏ trở thành một phần không thể tách rời "lối sống Mỹ".
Thế chiến 2 thậm chí có thể được gọi là cuộc xung đột do và về dầu mỏ. Lực lượng Mỹ ở châu Âu sử dụng lượng xăng trong Thế chiến 2 gấp 100 lần so với Thế chiến 1. Hai năm sau khi cuộc chiến nổ ra, vào năm 1941 nguồn cung dầu cho Anh bị cắt đứt do các cuộc tấn công của tàu ngầm Đức.
Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng cũng vào năm 1941 vì lệnh cấm vận dầu mỏ của Mỹ. Và một trong những nguyên nhân then chốt khiến Hitler xâm lược Liên Xô trong cùng năm là vì chính quyền Đức quốc xã muốn chiếm lấy nguồn dầu mỏ dồi dào ở vùng Kavkaz.
Trong suốt Thế chiến 2, Mỹ cũng bắt đầu chuyển hướng chú ý sang nỗ lực đảm bảo nguồn cung dầu cho tương lai. Năm 1944, nhà địa chất người Mỹ Everette Lee DeGoyler trở về từ Saudi Arabia và tuyên bố dầu mỏ khu vực này sẽ là "phần thưởng lớn nhất trong toàn bộ lịch sử".
Trong các cuộc họp bí mật ở kênh đào Suez giữa Roosevelt và Abdul Aziz ibn Saud, cha của Quốc vương Saudi hiện giờ và ông nội của vị Thái tử lừng danh đang cầm quyền Mohammed bin Salman, Mỹ đã khẳng định được quyền lực áp đảo với khu vực nhiều dầu mỏ nhất thế giới. Khoảnh khắc đó đóng vai trò then chốt định hình căn bản thương mại năng lượng và địa chính trị quốc tế như ngày nay.
****************
Khi các nước Ả Rập lần đầu tiên dùng dầu mỏ như một lệnh trừng phạt chính trị quy mô lớn. Trong nhiều hệ quả của cuộc khủng hoảng thì sự đổ vỡ của hệ thống đô la - bản vị vàng và sự ra đời của hệ thống đô la - bản vị dầu mỏ (petrodollar) có lẽ là quan trọng nhất.
>> Kỳ tới: Cú sốc dầu mỏ 1973 và quyền lực petrodollar








