Mở rộng thị trường xuất khẩu: Không thể “bỏ trứng vào một giỏ”

02/06/2026 13:30

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu liên tục biến động, việc tìm kiếm và mở rộng các thị trường xuất khẩu mới đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Mở rộng thị trường xuất khẩu: Không thể “bỏ trứng vào một giỏ”

Theo dõi KTMT trên

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu liên tục biến động, việc tìm kiếm và mở rộng các thị trường xuất khẩu mới đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Nhiều năm qua, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào một số thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc. Đây đều là những thị trường quy mô lớn, sức mua cao và đóng vai trò động lực tăng trưởng quan trọng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, sự phụ thuộc quá lớn cũng khiến doanh nghiệp Việt dễ bị tổn thương khi các thị trường này thay đổi chính sách thương mại, gia tăng hàng rào kỹ thuật hoặc suy giảm nhu cầu tiêu dùng.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động, việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, mở rộng đối tác đầu tư và tìm kiếm các dư địa tăng trưởng mới đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Mở rộng thị trường xuất khẩu: Không thể “bỏ trứng vào một giỏ” - Ảnh 1 Phát triển các thị trường xuất khẩu mới là yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp Việt Nam. Ảnh minh hoạ

Tuy nhiên, chinh phục thị trường mới không phải là bài toán dễ dàng. Doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro về logistics, thanh toán quốc tế, thiếu thông tin thị trường hay khác biệt pháp lý và văn hóa.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, đa dạng hóa thị trường không còn là lựa chọn mang tính ngắn hạn mà đã trở thành yêu cầu sống còn đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Việc chủ động tìm kiếm những “vùng tăng trưởng mới” sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro mà còn mở ra cơ hội nâng cao vị thế hàng hóa Việt trên thị trường quốc tế.

Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Môi trường, ông Nguyễn Tuấn Việt - Tổng Giám đốc VIETGO, Chuyên gia về Xuất nhập khẩu hàng đầu cho rằng, các thị trường mới nổi đang mang đến những cơ hội rất lớn cho doanh nghiệp Việt Nam nếu biết nắm bắt xu hướng và thay đổi tư duy kinh doanh.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động, nhu cầu tại nhiều thị trường truyền thống suy giảm và xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, ông đánh giá như thế nào về vai trò của việc tìm kiếm và mở rộng các thị trường xuất khẩu mới đối với doanh nghiệp Việt Nam hiện nay?

ÔngNguyễn Tuấn Việt: Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động, nhu cầu tại một số thị trường truyền thống suy giảm và xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, việc tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Thực tế, ngay cả khi các thị trường truyền thống vẫn duy trì tăng trưởng tốt và các rào cản thương mại không gia tăng, chúng ta cũng không nên phụ thuộc vào bất kỳ thị trường nào. Hoạt động xuất khẩu muốn phát triển bền vững phải luôn hướng tới việc đa dạng hóa thị trường, mở rộng khách hàng và tìm kiếm những cơ hội mới.

Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu, đầu ra luôn là yếu tố sống còn. Việc mở rộng thị trường giúp tạo thêm “điểm tựa” khi một thị trường gặp khó khăn hoặc có biến động bất ngờ. Ở tầm quốc gia, điều này càng có ý nghĩa hơn bởi nó góp phần đảm bảo ổn định cho hoạt động xuất khẩu, giảm thiểu rủi ro và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, các thị trường mới còn tạo cơ hội cho những doanh nghiệp mới tham gia xuất khẩu. Không phải doanh nghiệp nào cũng đủ năng lực để ngay lập tức tiếp cận những thị trường khó tính như Mỹ hay EU. Nhiều doanh nghiệp có thể bắt đầu từ các thị trường dễ tiếp cận hơn, từ đó tích lũy kinh nghiệm, nâng cao năng lực cạnh tranh trước khi tiến tới những phân khúc cao hơn.

Có thể hình dung điều này giống như nguyên tắc “không bỏ tất cả trứng vào một giỏ”. Một nền kinh tế xuất khẩu mạnh là nền kinh tế có khả năng phân tán rủi ro, không phụ thuộc quá lớn vào bất kỳ một thị trường nào.

Mở rộng thị trường xuất khẩu: Không thể “bỏ trứng vào một giỏ” - Ảnh 2 Ông Nguyễn Tuấn Việt cho rằng doanh nghiệp Việt không nên "bỏ tất cả trứng vào một giỏ"

Theo ông, đâu sẽ là những khu vực hoặc thị trường mới giàu tiềm năng nhất cho hàng hóa Việt Nam trong giai đoạn tới? Những nhóm ngành hoặc mặt hàng nào của Việt Nam có cơ hội bứt phá tại các thị trường này?

ÔngNguyễn Tuấn Việt: Theo tôi, có một số khu vực rất giàu tiềm năng mà doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Đầu tiên là Ấn Độ với quy mô dân số hơn 1,4 tỷ người. Đây là một trong những thị trường hấp dẫn nhất hiện nay. Mới đây Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có chuyến thăm và nâng cái tầm hợp tác với Ấn Độ lên thành là chiến lược toàn diện, khiến dư địa hợp tác kinh tế - thương mại được mở rộng lớn.

Ấn Độ là thị trường tiêu thụ gia vị hàng đầu thế giới. Những mặt hàng như quế, hồi, thảo quả, gừng, nghệ, tỏi, ớt cùng nhiều loại nông sản khác của Việt Nam đều có cơ hội lớn. Ngoài ra, các sản phẩm tiêu dùng, đồ gỗ và vật liệu xây dựng cũng có tiềm năng đáng kể.

Tiếp theo là châuPhi, khu vực có khoảng 1,5 tỷ dân. Đây là thị trường truyền thống của nhiều mặt hàng Việt Nam, đặc biệt là gạo. Hiện nay, một tỷ lệ lớn gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn được tiêu thụ tại khu vực này. Bên cạnh nông sản, các mặt hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng cũng có dư địa phát triển rất lớn.

Mở rộng thị trường xuất khẩu: Không thể “bỏ trứng vào một giỏ” - Ảnh 3 Thị trường châu Phi rất tiềm năng đối với mặt hàng gạo của Việt Nam

Thứ ba là Trung Đông với khoảng 450 triệu dân. Đây là khu vực có sức mua cao, nhiều quốc gia phụ thuộc lớn vào nhập khẩu do điều kiện tự nhiên hạn chế sản xuất nông nghiệp. Nông sản, thực phẩm, hàng tiêu dùng và đặc biệt là vật liệu xây dựng, mặt hàng tái thiết đất nước sau chiến tranh nên Việt Nam có rất nhiều cơ hội tại thị trường này.

Ngoài ra, ASEAN với hơn 700 triệu dân cũng là khu vực rất tiềm năng. Mặc dù có nhiều mặt hàng tương đồng với Việt Nam, song quy mô giao thương nội khối vẫn rất lớn. Đây là thị trường gần gũi về địa lý, thuận lợi về logistics và có nhiều cơ chế hợp tác kinh tế.

Bên cạnh đó, Nam Mỹ với hơn 450 triệu dân cũng là khu vực cần được khai thác mạnh hơn trong thời gian tới. Mặc dù khoảng cách địa lý xa hơn, nhưng đây vẫn là thị trường có nhu cầu lớn đối với nhiều mặt hàng nông sản và hàng tiêu dùng của Việt Nam.

Nếu so sánh giữa các thị trường truyền thống quy mô lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc với các thị trường mới nổi tại Trung Đông, châu Phi, Nam Á hay Nam Mỹ, sự khác biệt về cơ hội, dư địa tăng trưởng cũng như mức độ rủi ro sẽ như thế nào?

ÔngNguyễn Tuấn Việt: Tại các thị trường lớn như Mỹ và EU, sức hấp dẫn đến từ quy mô tiêu dùng lớn và khả năng chi trả cao. Tuy nhiên, đây cũng là những thị trường có mức độ cạnh tranh rất khốc liệt. Do nhiều quốc gia cùng muốn tiếp cận nên các nước này áp dụng nhiều hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn nghiêm ngặt.

Doanh nghiệp muốn xuất khẩu vào Mỹ hoặc EU phải đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn xanh, chứng nhận môi trường, chứng chỉ rừng bền vững đối với ngành gỗ và nhiều quy định kỹ thuật khác.

Trong khi đó, các thị trường như Ấn Độ, Trung Đông hay châu Phi lại có những đặc điểm khác biệt hơn. Ấn Độ là quốc gia tiêu thụ gia vị lớn nhất thế giới, đồng thời có nhu cầu rất lớn đối với nhiều mặt hàng nông sản, đồ gỗ và sản phẩm tiêu dùng. Còn Trung Đông là khu vực có sức mua cao, nhiều quốc gia giàu có và sẵn sàng trả mức giá tốt. Đây cũng là khu vực đang có nhu cầu lớn về vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng và nhiều sản phẩm phục vụ tái thiết hạ tầng. Về logistics, Việt Nam hiện có lợi thế đáng kể khi xuất khẩu sang Trung Đông.

Đối với Nam Mỹ, cơ hội vẫn rất lớn nhưng thách thức chủ yếu đến từ khoảng cách địa lý xa và chi phí vận tải cao. Đây là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến sức cạnh tranh của nhiều mặt hàng, đặc biệt là các sản phẩm có giá trị thấp nhưng chi phí vận chuyển lớn.

Về phía ASEAN là thị trường gần gũi, có nhiều điểm tương đồng về văn hóa và tiêu dùng với Việt Nam.

Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp Việt còn khá dè dặt khi tiếp cận các thị trường mới. Theo ông, đâu là những khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp thường gặp phải khi thâm nhập các thị trường này, từ logistics, thanh toán, tiêu chuẩn kỹ thuật cho tới khác biệt văn hóa tiêu dùng?

ÔngNguyễn Tuấn Việt: Theo tôi, có hai khó khăn lớn nhất. Thứ nhất, phần lớn doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là doanh nghiệp sản xuất. Do tập trung vào sản xuất nên khả năng thích ứng nhanh với các biến động của thị trường chưa cao. Khi tiếp cận một thị trường mới với nhu cầu, thị hiếu hoặc yêu cầu kỹ thuật khác biệt, việc điều chỉnh sản phẩm thường mất nhiều thời gian.

Điều này cho thấy nền kinh tế cần phát triển mạnh hơn đội ngũ doanh nghiệp thương mại chuyên nghiệp. Những doanh nghiệp này sẽ đóng vai trò cầu nối giữa thị trường và nhà sản xuất, giúp phát hiện xu hướng mới, tìm kiếm khách hàng mới và truyền tải nhu cầu thị trường tới các cơ sở sản xuất.

Khó khăn thứ hai là năng lực dự báo và phân tích thị trường còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa có điều kiện tiếp cận thông tin kịp thời về nhu cầu, xu hướng tiêu dùng hay những biến động mới tại các thị trường tiềm năng.

Theo ông, đâu là những lợi thế hoặc cơ hội mà doanh nghiệp Việt có thể tận dụng để tạo chỗ đứng tại các thị trường mới nổi?

ÔngNguyễn Tuấn Việt: Các thị trường mới nổi đang đề cập chiếm tới khoảng ba phần tư dân số toàn cầu. Lợi thế đầu tiên của Việt Nam là mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) rất rộng. Hiện nay, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có số lượng FTA thuộc hàng nhiều nhất thế giới. Điều này giúp hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan tại nhiều thị trường.

Lợi thế thứ hai là logistics. Việt Nam sở hữu vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng và có hệ thống cảng biển phát triển. Điều này giúp giảm đáng kể chi phí vận chuyển đối với nhiều mặt hàng.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần nâng cao khả năng nắm bắt xu hướng thị trường. Trên thế giới mỗi ngày đều xuất hiện những nhu cầu mới phát sinh từ các sự kiện kinh tế, chính trị, văn hóa hay thể thao. Doanh nghiệp nào nhận diện và đáp ứng nhanh hơn sẽ có cơ hội tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn.

Để có thể tham gia sâu hơn vào các “ngách” thị trường xuất nhập khẩu mới, đặc biệt là những phân khúc yêu cầu cao, doanh nghiệp Việt cần thay đổi tư duy và chiến lược như thế nào?

ÔngNguyễn Tuấn Việt: Điều quan trọng nhất là phải thay đổi tư duy bán hàng. Doanh nghiệp không thể duy trì một sản phẩm trong nhiều năm mà không đổi mới. Thị trường luôn thay đổi, nhu cầu của khách hàng cũng thay đổi. Nếu doanh nghiệp không đổi mới sáng tạo, không nâng cấp sản phẩm và không bắt kịp xu hướng tiêu dùng, nguy cơ mất thị trường là rất lớn.

Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy “bán cái mình có” sang “sản xuất và bán cái thị trường cần”. Khi đáp ứng đúng nhu cầu đang tăng cao của thị trường, doanh nghiệp thường có khả năng đạt mức lợi nhuận tốt hơn đáng kể so với các đơn hàng thông thường.

Song song với đó, cần tăng cường công tác dự báo, phân tích thị trường và nâng cao chất lượng thông tin hỗ trợ doanh nghiệp để giúp họ phát hiện sớm những cơ hội mới.

Trong quá trình mở rộng thị trường quốc tế, vai trò của các doanh nghiệp môi giới thương mại, đơn vị xúc tiến xuất nhập khẩu được thể hiện ra sao để hỗ trợ doanh nghiệp giảm rủi ro và tiếp cận thị trường hiệu quả hơn?

ÔngNguyễn Tuấn Việt: Trước hết, cần ghi nhận những nỗ lực của Chính phủ và Bộ Công Thương trong việc đàm phán, ký kết các FTA, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế.

Đối với các doanh nghiệp xúc tiến thương mại, nhiệm vụ quan trọng là cung cấp thông tin thị trường, dự báo xu hướng tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện cơ hội kinh doanh mới.

Ngoài ra, các đơn vị này còn có vai trò tổng hợp những bài học thành công và thất bại từ thực tiễn, giúp doanh nghiệp đi sau tránh được các sai lầm không đáng có. Quan trọng hơn, có thể hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện các rủi ro trong giao dịch quốc tế, từ đó hạn chế các tranh chấp thương mại và những “cạm bẫy” trên thị trường toàn cầu.

Trong giai đoạn hiện nay, điều doanh nghiệp Việt cần nhất không chỉ là hàng hóa hay năng lực sản xuất, mà còn là sự năng động trong tiếp cận thị trường. Một quốc gia có thể không phải là nơi sản xuất lớn nhất, nhưng nếu có khả năng kết nối, giao thương và nắm bắt cơ hội tốt hơn, vẫn có thể tạo ra giá trị xuất khẩu rất lớn. Đó cũng chính là vai trò ngày càng quan trọng của hệ sinh thái xúc tiến thương mại trong hành trình đưa hàng hóa Việt Nam vươn ra thế giới.

Xin cảm ơn ông!

Hải Đăng

Bạn đang đọc bài viết "Mở rộng thị trường xuất khẩu: Không thể “bỏ trứng vào một giỏ”" tại chuyên mục Đầu tư. Mọi bài vở cộng tác xin gọi hotline (0987.245.378hoặc gửi về địa chỉ email (info.vstarmedia2018@gmail.com).