Trong quý I/2026, thu nhập bình quân của người lao động tiếp tục xu hướng tăng, đạt mức 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 329 nghìn đồng (tương ứng 3,8%) so với quý trước và tăng 706 nghìn đồng (tương ứng 8,5%) so với cùng kỳ năm trước. Việc thu nhập cải thiện trong bối cảnh lạm phát được kiểm soát đã góp phần nâng cao thu nhập thực và cải thiện đời sống người lao động.
Thu nhập người lao động tăng lên trong quý I/2026Thị trường lao động trong những tháng đầu năm nhìn chung duy trì sự ổn định. Quy mô lực lượng lao động và số người có việc làm có xu hướng giảm nhẹ so với quý trước do yếu tố сезон, nhưng lại tăng so với cùng kỳ năm trước, phù hợp với quy luật thường thấy trong quý có Tết Nguyên đán. Thu nhập bình quân tăng ở cả hai giới và các khu vực, cho thấy chất lượng việc làm đang dần được cải thiện.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I/2026 ước đạt 53,6 triệu người, giảm 232,9 nghìn người so với quý trước nhưng tăng 687,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt 68,3%, giảm 0,4 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,6%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Số lao động có việc làm trong quý I/2026 ước tính là 52,5 triệu người, giảm 233,4 nghìn người (tương ứng giảm 0,4%) so với quý trước, nhưng tăng 656,8 nghìn người (tương ứng tăng 1,3%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị có 20,6 triệu người, chiếm 39,2%, giảm 122,2 nghìn người so với quý trước và tăng 587,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn có 31,9 triệu người, chiếm 60,8%, giảm 111,2 nghìn người và tăng 69,3 nghìn người.
Xét theo khu vực kinh tế, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 13,3 triệu người, chiếm 25,3%, giảm 104,6 nghìn người so với quý trước và giảm 187,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Khu vực công nghiệp và xây dựng có 17,7 triệu người, chiếm 33,7%, giảm 133,9 nghìn người so với quý trước và tăng 417,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Khu vực dịch vụ đạt 21,5 triệu người, chiếm 41,0%, tăng 5,1 nghìn người so với quý trước và tăng 426,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức trong quý I/2026 là 62,2%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với quý trước nhưng giảm 2,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỷ lệ này tại khu vực thành thị là 48,4%, còn khu vực nông thôn là 71,1%.
Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 786,7 nghìn người, tăng 2,7 nghìn người so với quý trước nhưng giảm 10,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm là 1,68%, gần như không thay đổi so với quý trước và giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực thành thị là 1,27% và khu vực nông thôn là 1,95%.
Phân theo ngành, số người thiếu việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 380,9 nghìn người, chiếm 48,4% và giảm 18,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Khu vực dịch vụ có 268,6 nghìn người, chiếm 34,1% và tăng 52,8 nghìn người. Khu vực công nghiệp và xây dựng có 137,2 nghìn người, chiếm 17,4% và giảm 44,3 nghìn người.
Xét về thu nhập, mức bình quân 9,0 triệu đồng/tháng được ghi nhận ở tất cả các nhóm. Trong đó, lao động nam có thu nhập 10,1 triệu đồng/tháng, cao hơn lao động nữ với 7,7 triệu đồng/tháng. Theo khu vực, lao động tại thành thị đạt 10,7 triệu đồng/tháng, trong khi khu vực nông thôn đạt 7,9 triệu đồng/tháng.
Đối với lao động làm công hưởng lương, thu nhập bình quân đạt 10,0 triệu đồng/tháng, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng 622 nghìn đồng. Trong đó, lao động nam đạt 10,5 triệu đồng/tháng; lao động nữ đạt 9,5 triệu đồng/tháng; khu vực thành thị đạt 11,2 triệu đồng/tháng; khu vực nông thôn đạt 9,1 triệu đồng/tháng.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I/2026 là 2,21%, gần như không thay đổi so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực thành thị là 2,46%, tiếp tục duy trì dưới mức 3,0%.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15–24 tuổi là 8,86%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với quý trước nhưng tăng 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 10,7%, giảm 0,4 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 7,8%, tăng 1,5 điểm phần trăm.
Số thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo gần 1,6 triệu người, chiếm 11,4% tổng số thanh niên, tăng 172,6 nghìn người so với quý trước và tăng 212,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị chiếm 8,9%, khu vực nông thôn chiếm 13,0%; nữ là 12,8% và nam là 10,0%.
Ngoài ra, số lao động làm công việc tự sản tự tiêu trong quý I/2026 là hơn 3,8 triệu người, gần tương đương so với cùng kỳ năm trước. Nhóm lao động này chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn với 93,9% và phần lớn là nữ giới, chiếm 65,0%. Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng yêu cầu cao về kỹ năng, nhóm lao động này gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm ổn định và có chất lượng.
PV








