
Một góc khu trung tâm thành phố Cần Thơ - Ảnh: CHÍ QUỐC
Tụt dốc và "đội sổ"
Bảng xếp hạng tăng trưởng GRDP quý 1-2026 của 34 tỉnh, thành cả nước cho thấy một thực tế đáng suy ngẫm. Cuối bảng xếp hạng có đến 4/5 địa phương miền Tây, trong đó có Cần Thơ - trung tâm kinh tế, khoa học, công nghệ, y tế, giáo dục và là đầu mối giao thông vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Cần Thơ từ mức tăng trưởng GRDP 7,23% năm 2025, xếp 25/34 tỉnh, thành cả nước đã "rơi thẳng đứng" xuống vị trí 31/34, chỉ xếp trên đúng 3 địa phương "đồng hương vùng" đang cuối bảng là Vĩnh Long (5,3%), Cà Mau (5,64%) và Đồng Tháp (6,14%).
Trong khi nhiều địa phương phía Bắc đạt mức tăng trưởng cao như Hà Tĩnh (12,42%), Ninh Bình (11,63%) Hưng Yên (10,43%) nhờ phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, lợi thế cơ sở hạ tầng và thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư. Hầu hết các tỉnh, thành miền Tây vẫn "lẹt đẹt" ở nhóm dưới và ngày có vẻ đang bị bỏ lại phía sau.
Tăng trưởng GRDP các tỉnh miền Tây trong năm 2025, năm đầu tiên sau khi sáp nhập đã thuộc nhóm thấp, thì nay lại rơi vào nhóm thấp nhất, bị các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Gia Lai, Đắk Lắk bỏ qua. Cần Thơ từ vị trí 25 xuống 31, Đồng Tháp từ 23 xuống 32, Cà Mau từ 26 xuống 33 và Vĩnh Long vẫn "đội sổ" ở vị trí 34/34 tỉnh, thành của cả nước.
Việc "đội sổ" của các địa phương này có phải do cơ cấu kinh tế vùng vẫn thuần nông? Do khó khăn về cơ sở hạ tầng giao thông nên khó thu hút đầu tư, không tạo ra động lực tăng trưởng hay nguyên nhân nào khác?
Nếu chỉ "đổ thừa" cơ cấu và khó khăn về cơ sở hạ tầng giao thông thì khó lý giải trường hợp tăng trưởng của TP Cần Thơ. Là trung tâm vùng, có cơ cấu kinh tế nghiêng về dịch vụ và công nghiệp nhưng lại rơi xuống nhóm cuối bảng.
Không chỉ vậy, nếu đặt trong tương quan 6 thành phố trực thuộc Trung ương, thì Cần Thơ cũng là địa phương có mức tăng trưởng thấp nhất, đứng sau Hải Phòng (10,87%), Huế (9,88%) Đà Nẵng (8,45%), TP.HCM (8,27%) và Hà Nội (7,87%).
Trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long chỉ duy nhất có tỉnh An Giang - sau khi hợp nhất không gian phát triển các tỉnh An Giang và Kiên Giang trước đây đạt mức tăng trưởng GRDP 8,31%, xếp 19/34 địa phương cả nước. An Giang cũng xếp thứ 14 về tăng trưởng GRDP năm 2025. Điều này cho thấy ngay trong một vùng có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, vẫn có sự khác biệt rõ rệt về kết quả tăng trưởng.
Những dữ kiện này cho thấy vấn đề không còn nằm ở "ngành nào chiếm tỉ trọng lớn", mà nằm ở động lực tăng trưởng thực chất của từng địa phương.
Đi tìm nguyên nhân
Nhìn vào cấu trúc tăng trưởng của các tỉnh miền Tây, có thể thấy hai nhóm vấn đề khác nhau. Với nhiều địa phương, hạn chế vẫn mang tính "truyền thống". Quy mô kinh tế nhỏ, phụ thuộc vào sản xuất nguyên liệu, thiếu công nghiệp chế biến và doanh nghiệp đầu tàu. Điều này khiến tăng trưởng dễ bị tổn thương trước biến động thị trường và thiên tai.
Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở đó sẽ không lý giải được trường hợp của Cần Thơ, cũng như không giải thích được vì sao một địa phương như An Giang lại có thể duy trì thứ hạng khá. Sự khác biệt nằm ở cách các địa phương tạo ra động lực tăng trưởng.

Với An Giang, tăng trưởng không chỉ dựa vào nông nghiệp thuần túy, mà được "kéo" bởi nhiều trụ cột cùng lúc: kinh tế biển, du lịch, năng lượng tái tạo, cùng với nông nghiệp quy mô lớn. Trong ảnh: Vụ đông xuân 2025-2026, An Giang có gần 4 triệu tấn lúa - Ảnh: BỬU ĐẤU
Với An Giang, tăng trưởng không chỉ dựa vào nông nghiệp thuần túy, mà được "kéo" bởi nhiều trụ cột cùng lúc: kinh tế biển, du lịch, năng lượng tái tạo, cùng với nông nghiệp quy mô lớn. Sự kết hợp này tạo ra một cấu trúc động lực đa dạng, giúp nền kinh tế không bị phụ thuộc vào một khu vực duy nhất. Quan trọng hơn, các hoạt động kinh tế có xu hướng gắn kết theo chuỗi, tạo hiệu ứng lan tỏa.
Trong khi đó, Cần Thơ lại rơi vào một nghịch lý cơ cấu "đẹp", nhưng động lực yếu. Đây là 1 trong 6 thành phố trực thuộc Trung ương, gần 2 thập kỷ trước đã là 1 trong 10 địa phương của cả nước tự cân đối được thu - chi và có khả năng điều tiết nguồn thu ngân sách về Trung ương.
Cần Thơ có một "cơ cấu kinh tế" mơ ước của nhiều địa phương với khu vực công nghiệp, dịch vụ chiếm gần 89%, nông nghiệp chỉ chiếm hơn 11%. Dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn nhưng chủ yếu vẫn là thương mại và tiêu dùng nội vùng. Những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao như logistics, tài chính, công nghệ… chưa phát triển tương xứng với vai trò trung tâm. Khi dịch vụ không "xuất khẩu" được ra ngoài vùng, nó khó tạo ra tăng trưởng đột phá.
Công nghiệp cũng tương tự. Dù có mặt trong cơ cấu, nhưng thiếu các ngành dẫn dắt, thiếu các dự án quy mô lớn, thiếu liên kết chuỗi. Điều này khiến công nghiệp chưa trở thành trụ cột thực sự.
Trên lý thuyết, vai trò trung tâm vùng của Cần Thơ phải là nơi hội tụ của dòng hàng hóa, dòng vốn và dòng dịch vụ. Nhưng trên thực tế, các dòng chảy này vẫn phân tán, chưa tập trung rõ rệt. Khi một trung tâm không thu hút được các dòng lực chính, thì tăng trưởng khó có thể bứt phá.
Bên cạnh đó, sự thiếu vắng các "cú hích" đầu tư quy mô lớn cũng là một nguyên nhân quan trọng. Trong khi nhiều địa phương khác tăng trưởng nhanh nhờ một vài dự án FDI mang tính động lực, thì Cần Thơ vẫn chưa tạo được những điểm nhấn tương tự. Đầu tư công chưa tạo ra hiệu ứng lan tỏa đủ mạnh, còn khu vực tư nhân thì chưa hình thành được những doanh nghiệp đầu tàu.
Vấn đề điều hành và hấp thụ nguồn lực tiếp tục là một điểm nghẽn. Tốc độ triển khai dự án, khả năng chuyển hóa chính sách thành kết quả cụ thể, mức độ chủ động trong thu hút đầu tư… tất cả đều ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng.
Quý 1-2026 cho thấy khu vực công nghiệp - xây dựng là động lực chính của thành phố lại tăng trưởng thấp; giải ngân đầu tư công thấp hơn nhiều so với yêu cầu, chỉ đạt 7% so chỉ tiêu 20%; tiến độ các công trình đầu tư công trọng điểm chậm, dự án đầu tư ngoài ngân sách còn nhiều vướng mắc.
Nếu An Giang đang cho thấy cách đa dạng hóa động lực tăng trưởng, thì Cần Thơ lại đang loay hoay với bài toán chuyển hóa cơ cấu thành tăng trưởng thực chất.
Động lực nào để tăng trưởng cả năm?
Để thoát khỏi tình trạng "đội sổ", miền Tây cần một cách tiếp cận mới, không chỉ dừng ở việc khắc phục từng hạn chế riêng lẻ. Cần phải "đổi trục", không chỉ "vá lỗi".
Ở cấp độ vùng, cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào nguồn lực sang phát triển theo chuỗi giá trị. Nông nghiệp phải gắn với chế biến, logistics và thị trường; công nghiệp phải gắn với vùng nguyên liệu; dịch vụ phải hướng tới phục vụ sản xuất, chứ không chỉ tiêu dùng.
Trường hợp của An Giang cho thấy, khi các trụ cột kinh tế được đa dạng hóa và liên kết tốt, tăng trưởng có thể được cải thiện đáng kể, ngay cả trong điều kiện không thuận lợi hơn các địa phương khác. Với Cần Thơ, yêu cầu đặt ra cao hơn.
Trước hết là tái định vị vai trò trung tâm vùng một cách thực chất. Thành phố không thể chỉ là nơi "lớn nhất vùng", mà phải là nơi "quan trọng nhất về chức năng". Điều đó đòi hỏi phát triển mạnh các ngành dịch vụ có khả năng dẫn dắt, đặc biệt là logistics và dịch vụ hỗ trợ sản xuất.
Cần một chiến lược thu hút đầu tư có trọng tâm. Không phải số lượng dự án, không chỉ dừng lại các cuộc đón tiếp những "đại gia" với ý tưởng đầu tư dự án lớn, mà rất cần chất lượng và khả năng triển khai trong thực tế.
Một vài dự án quy mô lớn, đúng ngành, đúng hướng, có thể tạo ra bước ngoặt cho tăng trưởng. Đồng thời cần tạo ra những "cú hích" đủ mạnh từ đầu tư công, đặc biệt là hạ tầng chiến lược. Khi hạ tầng được cải thiện, vai trò trung tâm mới có thể được phát huy.
Quan trọng không kém là nâng cao năng lực điều hành. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các địa phương ngày càng gay gắt, sự khác biệt không còn nằm ở tài nguyên, mà nằm ở cách tổ chức thực hiện. Địa phương nào hành động nhanh hơn, hiệu quả hơn, sẽ có lợi thế.
Miền Tây không thiếu tiềm năng. Nhưng tiềm năng chỉ trở thành tăng trưởng khi được tổ chức lại một cách hợp lý. Sự khác biệt giữa An Giang và nhiều địa phương khác, hay giữa kỳ vọng và thực tế của Cần Thơ, cho thấy một điều rõ ràng: vấn đề không phải là có gì, mà là sử dụng cái đang có như thế nào.
Nếu không thay đổi cách tiếp cận, tình trạng "tụt dốc" và "đội sổ" có thể sẽ còn kéo dài. Nhưng nếu nhận diện đúng vấn đề và hành động đủ nhanh, miền Tây hoàn toàn có thể tìm lại động lực tăng trưởng - không chỉ cho một năm, mà cho cả một giai đoạn phát triển mới.








