Những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2026

01/07/2026 08:41

29 Luật chính thức có hiệu lực thi hành; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; tăng lương cơ sở từ ngày 1/7; nâng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng; Sinh con thứ 2 lao động nữ được nghỉ thai sản 7 tháng;... là nội dung một số chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2026.

29 Luật chính thức có hiệu lực thi hành

Từ ngày 1/7, hệ thống pháp luật Việt Nam có 29 bộ luật, luật và luật sửa đổi chính thức có hiệu lực thi hành. Các văn bản này tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống, kinh tế, và quản lý nhà nước.

29 bộ luật, luật và luật sửa đổi bao gồm: Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài sửa đổi 2026; Luật Thủ đô 2026; Luật Xây dựng 2025; Luật Viên chức 2025; Luật Thương mại điện tử 2025; Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025; Luật Quản lý thuế 2025; Luật Chuyển đổi số 2025; Luật Dự trữ quốc gia 2025; Luật Tiết kiệm, chống lãng phí 2025; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2025; Luật An ninh mạng 2025; Luật Báo chí 2025; Luật Công nghệ cao 2025; Luật Phòng bệnh 2025; Luật Dân số 2025.

Cùng với đó là các Luật: Luật sửa đổi Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo 2025; Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi 2025; Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025; Luật Phòng, chống ma túy 2025; Luật Thi hành án hình sự 2025; Luật Lý lịch tư pháp sửa đổi 2025; Luật Thi hành án dân sự 2025; Luật Tình trạng khẩn cấp 2025; Luật Tương trợ tư pháp về dân sự 2025; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025; Luật Dẫn độ 2025; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025.

Các Luật này đều có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

Quy định về cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chính phủ ban hành Nghị định số 198/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 3 Nghị định số 26/2025/NĐ-CP ngày 24/2/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Cụ thể, Nghị định số 198/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo hướng không thay đổi số lượng đơn vị (vẫn giữ 20 đơn vị); đổi tên Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thành Vụ Tín dụng; Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính thành Vụ Dự báo, thống kê.

Đồng thời, Nghị định số 198/2026/NĐ-CP cũng bổ sung quy định "Sở Giao dịch và Ngân hàng Nhà nước Khu vực là tổ chức hành chính tương đương cục thuộc Ngân hàng Nhà nước" và thay đổi số lượng phòng thuộc các Vụ.

Theo quy định mới, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gồm 20 đơn vị, trong đó, các đơn vị từ 1 đến 18 là tổ chức hành chính giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng Trung ương; các đơn vị quy định tại 19 và 20 là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.

Sở Giao dịch và Ngân hàng Nhà nước Khu vực là tổ chức hành chính tương đương cục thuộc Ngân hàng Nhà nước.

Vụ Dự báo, thống kê có 6 phòng. Vụ Chính sách tiền tệ có 5 phòng. Vụ Tín dụng, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Tài chính - Kế toán có 4 phòng. Vụ Thanh toán, Vụ Hợp tác quốc tế có 3 phòng. Vụ Pháp chế có 2 phòng.

Nghị định số 198/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Quy định về thanh toán, quyết toán vốn ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất

Chính phủ ban hành Nghị định số 157/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định về thanh toán, quyết toán vốn ngân sách nhà nước để cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước.

Nghị định quy định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lập hồ sơ đề nghị thanh toán cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại và gửi Kho bạc Nhà nước.

Kho bạc Nhà nước tiếp nhận, kiểm tra các thông tin trên hồ sơ đề nghị thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong phạm vi kế hoạch vốn đầu tư công hằng năm được giao, phạm vi tồn quỹ ngân sách để làm thủ tục thanh toán cho ngân hàng thương mại; đồng thời, gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 01 liên chứng từ (chứng từ báo Nợ) để xác nhận đã thực hiện thanh toán.

Trường hợp Kho bạc Nhà nước từ chối đề nghị thanh toán, Kho bạc Nhà nước gửi thông báo từ chối chấp thuận thanh toán khoản chi ngân sách nhà nước (trong đó nêu rõ lý do từ chối) cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Thời hạn giải quyết trong vòng 2 ngày làm việc kể từ ngày Kho bạc Nhà nước nhận đủ hồ sơ đề nghị thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tổng số tiền thanh toán cho các ngân hàng thương mại theo quy định ở trên trong năm ngân sách không vượt quá số giao kế hoạch đầu tư công cấp bù lãi suất đã thông báo trong năm.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

Tăng mức lương cơ sở lên 2.530.000 đồng/tháng

Chính phủ ban hành Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Mức lương cơ sở tăng từ 2,34 triệu đồng/tháng lên 2,53 triệu đồng/tháng, áp dụng từ ngày 1/7/2026, với người hưởng lương, phụ cấp áp dụng mức lương cơ sở bao gồm: Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã quy định tại Điều 1 Luật Cán bộ, công chức; Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Điều 1 Luật Viên chức; Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Nghị định của Chính phủ thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 8/10/2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 162/2026/NĐ-CP quy định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Theo khoản 1 điều 2 nghị định này, từ ngày 1/7 người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng sẽ được điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức hưởng của tháng 6/2026. Khoản 2 điều 2 Nghị định 162/2026/NĐ-CP quy định đối với các trường hợp nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp trước ngày 1/1/1995, sau khi tăng 8% mà mức hưởng vẫn thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì tiếp tục được điều chỉnh tăng thêm.

Nâng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng

Theo Luật Thuế Thu nhập cá nhân 2025, mức giảm trừ đối với bản thân người nộp thuế được nâng từ 11 triệu đồng/tháng lên 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm), tăng 4,5 triệu đồng. Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc cũng tăng từ 4,4 triệu đồng lên 6,2 triệu đồng/tháng.

Với mức giảm trừ này, người lao động độc thân có thu nhập từ tiền lương, tiền công không quá 15,5 triệu đồng/tháng sẽ không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Đối với người có người phụ thuộc, ngưỡng thu nhập chưa phải nộp thuế sẽ tiếp tục được nâng lên tương ứng với số người phụ thuộc được tính giảm trừ.

Người nộp thuế sẽ được áp dụng giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế. Ngoài bản thân, mỗi người phụ thuộc (như con, vợ/chồng không có khả năng lao động, bố mẹ hết tuổi lao động hoặc không nơi nương tựa…) được giảm trừ 6,2 triệu đồng/tháng và chỉ tính cho một người nộp thuế duy nhất. Mức giảm trừ có thể được điều chỉnh theo biến động giá cả và thu nhập do Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trong từng thời kỳ.

Đồng thời, sửa đổi quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh, điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế của hộ, cá nhân kinh doanh từ 200 triệu đồng/năm lên 500 triệu đồng/năm và cho trừ mức này trước khi tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu.

Hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỷ đồng, áp dụng thuế suất 15% trên thu nhập; hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 3 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng, áp dụng thuế suất 17% trên thu nhập; hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 50 tỷ đồng, áp dụng thuế suất 20% trên thu nhập.

Riêng cá nhân có doanh thu hơn 500 triệu đồng/năm đến 3 tỷ đồng được lựa chọn phương pháp tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu hoặc theo thu nhập.

Sinh con thứ 2 lao động nữ được nghỉ thai sản 7 tháng

Theo Khoản 1 Điều 29 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động số 49/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 71/2025/QH15 như sau: “Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 6 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 7 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 2 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng.”.

Như vậy, kể từ ngày 1/7/2026, lao động nữ sinh con thứ hai sẽ chính thức được nghỉ thai sản 7 tháng, thay vì 6 tháng như quy định hiện hành. Đây được xem là bước điều chỉnh mang tính nhân văn, góp phần hỗ trợ tốt hơn cho sức khỏe bà mẹ, đồng thời phù hợp với định hướng chính sách dân số trong giai đoạn mới.

Không chỉ lao động nữ, nếu vợ sinh con thứ hai, lao động nam sẽ được nghỉ 10 ngày làm việc, gấp đôi so với quy định hiện hành. Quy định mới không chỉ tăng thời gian nghỉ, mà còn thể hiện rõ hơn vai trò của người cha trong việc đồng hành, chăm sóc vợ và con ngay từ những ngày đầu sau sinh.

Bạn đang đọc bài viết "Những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2026" tại chuyên mục Tài chính - Ngân hàng. Mọi bài vở cộng tác xin gọi hotline (0987.245.378hoặc gửi về địa chỉ email (info.vstarmedia2018@gmail.com).